Rụng tóc Tóm tắt về bệnh

Cập nhật: 12 February 2026

Tổng quan

Như đã nêu trong phần Giới thiệu, rụng tóc có thể khu trú (thành mảng) hoặc lan tỏa; cũng có thể là rụng tóc sẹo hoặc không sẹo. Rụng tóc sẹo do viêm nặng nang tóc gây tổn thương không hồi phục. Trong khi rụng tóc không sẹo có thể hồi phục.

Trong phần Dịch tễ học có đề cập rụng tóc nội tiết androgen (Androgenetic Alopecia – AGA) là thể rụng tóc thường gặp nhất, ảnh hưởng cả nam và nữ, với tỷ lệ hiện mắc chịu ảnh hưởng bởi tuổi, giới tính và chủng tộc. Đối với rụng tóc từng vùng (Alopecia Areata – AA), nguy cơ suốt đời trong dân số chung vào khoảng 2 phần trăm. Các chi tiết khác về tỷ lệ mới mắc và hiện mắc được trình bày thêm trong phần này.

Phần Sinh bệnh học nêu rằng rụng tóc từng vùng là một tình trạng tự miễn. Trong khi rụng tóc nội tiết androgen có liên quan chặt chẽ đến sản xuất dihydrotestosterone (DHT), biểu hiện thụ thể androgen và hoạt tính của 5 alpha-reductase. Các chi tiết khác về cơ chế của 2 loại rụng tóc này được thảo luận thêm trong phần này.

Như đề cập trong phần Nguyên nhân, các nguyên nhân thường gặp nhất của rụng tóc bao gồm rụng tóc nội tiết/di truyền androgen (rụng tóc kiểu nam và nữ) và rụng tóc từng vùng.

Như thảo luận trong phần Phân loại, rụng tóc không sẹo có thể chia thành rụng tóc nội tiết androgen và rụng tóc từng vùng.

Alopecia_Disease Summary 2Alopecia_Disease Summary 2

Tiền sử và khám thực thể

Phần Biểu hiện lâm sàng thảo luận về kiểu rụng tóc, tuổi khởi phát và tiến triển của rụng tóc.

Phần Tiền sử nhấn mạnh tầm quan trọng của việc rà soát thuốc đang dùng, chế độ ăn kiêng nghiêm ngặt, bổ sung vitamin A, triệu chứng tuyến giáp, bệnh đi kèm và yếu tố căng thẳng khi đánh giá người bệnh rụng tóc. Cũng quan trọng không kém là khai thác tiền sử gia đình và tiền sử căng thẳng/chấn thương tâm lý.

Phần Khám thực thể đề cập một số nghiệm pháp có thể thực hiện ở bệnh nhân rụng tóc như nghiệm pháp giật tóc.

Chẩn đoán

Phần Chẩn đoán & Tiêu chuẩn chẩn đoán thảo luận về phân độ Hamilton–Norwood và phân độ Ludwig cho rụng tóc kiểu nam (MPHL) và rụng tóc kiểu nữ (FPHL) tương ứng. Cũng được nêu trong phần này rằng chẩn đoán rụng tóc từng vùng là dựa trên lâm sàng.

Các xét nghiệm chẩn đoán khác nhau có thể thực hiện ở rụng tóc nội tiết androgen và rụng tóc từng vùng được liệt kê và thảo luận trong phần Xét nghiệm và hỗ trợ chẩn đoán. Như nêu trong phần Hình ảnh học, có thể thực hiện chụp ảnh y khoa ở rụng tóc từng vùng để làm kiểm tra ban đầu.

Phần Chẩn đoán phân biệt liệt kê các tình trạng giống với rụng tóc.

Xử trí

Các cách đánh giá mức độ nặng của rụng tóc và tình trạng tâm lý ở rụng tóc được thảo luận trong phần Đánh giá.

Phần Điều trị bằng thuốc cung cấp chi tiết về các lựa chọn điều trị khác nhau cho rụng tóc từng vùng và rụng tóc nội tiết androgen. Trong khi phần Điều trị không dùng thuốc nhấn mạnh tầm quan trọng của giáo dục bệnh nhân và giá trị của các can thiệp khác như mỹ phẩm che phủ, tóc giả hoặc phục hình da đầu, liệu pháp laser, vi sắc tố, và cả can thiệp tâm lý.

Phần Phẫu thuật bao gồm chi tiết về cấy tóc và thu nhỏ da đầu.