Tiêu chảy ở người lớn do nhiễm trùng Tổng quan về bệnh

Cập nhật: 21 July 2025

Giới thiệu

Diarrhea in Adults - Infectious_Disease Background 1Diarrhea in Adults - Infectious_Disease Background 1


Tiêu chảy là sự thay đổi trong thói quen đại tiện bình thường, được đặc trưng bởi tăng tần suất đi tiêu, lượng nước trong phân, hoặc thể tích phân. Tình trạng này được xác định khi có ≥3 lần đi tiêu/ngày hoặc ít nhất 200-250 g/phân mỗi ngày.

Dịch tễ học

Ước tính số ca tiêu chảy hàng năm là 1,5 tỷ trên toàn thế giới. Đây là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở nhiều quốc gia đang phát triển, với tỷ lệ tử vong cao hơn ở phụ nữ. Tỷ lệ mắc bệnh và tử vong cao ở trẻ em <5 tuổi, người cao tuổi (≥65 tuổi), và người suy giảm miễn dịch. Tỷ lệ tử vong cao nhất được ghi nhận ở Nam Á và châu Phi cận Sahara ở trẻ em, trong khi Nam Á có số ca tử vong do bệnh tiêu chảy cao nhất ở người lớn tuổi.

Châu Á, đặc biệt Nam Á và Đông Nam Á có số ca tiêu chảy ở người lớn tuổi chiếm số lượng cao nhất cũng như tỷ lệ mắc cao nhất. Trung Âu ghi nhận mức tăng tỷ lệ mắc lớn nhất, trong khi các nước thu nhập cao ở Bắc Mỹ ghi nhận mức giảm lớn nhất. Một nghiên cứu thực hiện tại Trung Quốc cho thấy các mầm bệnh virus được phát hiện thường xuyên hơn ở bệnh nhân trẻ <5 tuổi, trong khi mầm bệnh vi khuẩn phổ biến hơn ở nhóm 18–45 tuổi.

Sinh bệnh học

Tiêu chảy viêm (tức là tiêu chảy phân nước hoặc phân máu) đặc trưng bởi tổn thương tế bào hấp thu ở ruột (enterocyte), teo nhung mao và tăng sản các hốc tuyến. Có sự kích thích bài tiết ở ruột do các chất trung gian gây viêm, giảm hấp thu của biểu mô bị tổn thương và tổn thương mạch máu qua trung gian miễn dịch hoặc loét do viêm nặng, điều này làm rò rỉ máu, mủ và protein từ mao mạch và mạch bạch huyết, góp phần gây tiêu chảy. Sự hoạt hóa của tế bào lympho, thực bào và nguyên bào sợi giải phóng các chất trung gian gây viêm tạo ra cảm ứng bài tiết chloride ở ruột. Interleukin-1 (IL-1) và yếu tố hoại tử khối u (TNF) được phóng thích vào máu gây sốt, chán ăn và mệt mỏi.

Nguyên nhân

Nguyên nhân gây tiêu chảy không do nhiễm trùng

Tiêu chảy kéo dài ở người không đi du lịch có thể do các nguyên nhân không phải nhiễm trùng, bao gồm hội chứng ruột kích thích (IBS), bệnh viêm ruột (IBD) hoặc bệnh ruột nhạy cảm với gluten. Các nguyên nhân không phải nhiễm trùng khác của tiêu chảy có thể bao gồm nghiện rượu, sử dụng thuốc và thuốc nhuận tràng, xạ trị, nuôi ăn qua đường ruột, dị ứng thực phẩm, xơ gan và tắc mật, sprue nhiệt đới hoặc bệnh celiac, suy tụy, suy thượng thận, nhiễm độc giáp, u carcinoid, căng thẳng với kích thích thần kinh tự chủ, ung thư đại tràng, tắc ruột, ngộ độc botulinum, hội chứng tán huyết-urê huyết, và áp-xe trong ổ bụng.

Ngộ độc thực phẩm do độc tố hoặc viêm dạ dày ruột do virus

Ngộ độc thực phẩm do độc tố vi khuẩn

Ngộ độc thực phẩm do độc tố vi khuẩn do Staphylococcus aureus, Bacillus cereus, Clostridium perfringens, Clostridium botulinum, hoặc Escherichia coli sinh độc tố ruột (ETEC) gây ra.

Viêm dạ dày ruột do virus

Viêm dạ dày ruột do virus do adenovirus typ huyết thanh 40/41, astrovirus, calicivirus ở người (ví dụ norovirus, sapovirus), và rotavirus gây ra. Norovirus là nguyên nhân hàng đầu gây tiêu chảy do nhiễm trùng ở người lớn và là nguyên nhân chính gây viêm dạ dày ruột qua thực phẩm trên toàn thế giới.

Tiêu chảy ở người đi du lịch

Diarrhea in Adults - Infectious_Disease Background 2Diarrhea in Adults - Infectious_Disease Background 2


Các nguyên nhân gây tiêu chảy cấp ở người đi du lịch sẽ khác nhau giữa các khu vực địa lý. Vi khuẩn chiếm 80-90% trường hợp, ký sinh trùng 10%, và virus 5-8% trường hợp. Escherichia coli sinh độc tố là một trong những vi sinh vật được xác định thường gặp nhất. Nhiễm Campylobacter có vẻ là nguyên nhân chiếm ưu thế gây tiêu chảy ở người đi du lịch ở Bắc Phi và Đông Nam Á. Yersinia enterocolitica phổ biến ở những người từng du lịch đến châu Á. Các vi sinh vật thường gặp khác là E. coli kết tập ruột (EAEC), Salmonella, Shigella spp. và các virus (ví dụ rotavirus, norovirus). Cần nghĩ tới ký sinh trùng khi tiêu chảy kéo dài >14 ngày.

Vui lòng xem sơ đồ quản lý bệnh Nhiễm ký sinh trùng để biết thêm thông tin.

Tiêu chảy phân nước

Mất nước nặng kèm tiêu chảy phân nước nặng có nhiều khả năng do Vibrio cholerae nhóm huyết thanh O1 cũng như ETEC gây ra. Vibrio O139, các Vibrio khác không thuộc nhóm O1 và đôi khi Vibrio parahaemolyticus, Aeromonas sp và E. coli gây bệnh đường ruột (EPEC) có thể gây ra tình trạng lâm sàng tương tự (dù tiêu chảy do các tác nhân này thường nhẹ hơn). Các mầm bệnh khác có tiềm năng gây tiêu chảy phân nước cấp tính có thể bao gồm norovirus, rotavirus, Campylobacter, Salmonella không phải thương hàn, Shigella, Listeria monocytogenes, ETEC, Cryptosporidium parvum, Cystoisospora belli, Giardia, Entamoeba histolytica, Balantidium coli, và vi bào tử trùng (microsporidia). Tiêu chảy phân nước kéo dài có thể do EAEC, Giardia, C. parvum/hominis, Cyclospora cayetanensis, và C. belli gây ra.

Tiêu chảy phân máu

Shigella spp. là nguyên nhân thường gặp nhất của tiêu chảy phân máu cấp tính. S. dysenteriaeS. flexneri có thể gây bệnh nặng hơn kèm sốt cao, trong đó S. dysenteriae có khả năng sản xuất độc tố Shiga. S. boydii S. sonnei gây bệnh nhẹ hơn. Nhiễm Campylobacter jejuni được gợi ý bởi tiền sử phơi nhiễm với gia súc và gia cầm và sự hiện diện của động vật gần khu vực nấu ăn của bệnh nhân. Salmonella enteritidis, Y. enterocolitica, C. difficile, EHEC và E. coli xâm lấn ruột (EIEC) cũng có thể gây tiêu chảy phân máu. Các mầm bệnh khác có tiềm năng gây tiêu chảy phân máu có thể bao gồm cytomegalovirus, Vibrio spp. không gây tả, Plesiomonas shigelloides, Y. enterocolitica, B. coli,E. histolytica. Tiêu chảy phân máu kéo dài có thể do Mycobacterium tuberculosis, B. coli, hoặc E. histolytica gây ra. Thời gian ủ bệnh từ 1-7 ngày.

Yếu tố nguy cơ

Yếu tố nguy cơ dịch tễ

Diarrhea in Adults - Infectious_Disease Background 3Diarrhea in Adults - Infectious_Disease Background 3


Nơi cư trú

Các mầm bệnh có khả năng gặp ở cơ sở chăm sóc dài hạn hoặc nhà tù bao gồm norovirus, rotavirus, Clostridioides difficile, Escherichia coli sinh độc tố Shiga (STEC), Shigella,Giardia.

Du lịch đến quốc gia đang phát triển

Các tác nhân gây bệnh tiềm tàng khi đi du lịch đến một quốc gia đang phát triển bao gồm norovirus, Escherichia coli kết tập ruột (EAEC), Escherichia coli gây bệnh đường ruột (EPEC), Escherichia coli sinh độc tố ruột (ETEC), Campylobacter, Shigella, Salmonella không phải thương hàn, Cryptosporidia, Cyclospora spp., Entamoeba histolytica, Giardia, hiếm gặp Vibrio cholerae, và Balantidium coli. Cyclospora spp. là tác nhân có khả năng gặp ở người đi du lịch đến vùng nhiệt đới hoặc cận nhiệt đới. Có thể liên quan với rotavirus ở người trở về từ châu Phi, châu Á hoặc Nam Mỹ.

Du lịch tàu biển
Tác nhân thường gặp trong du lịch tàu biển là norovirus, và đôi khi là ETEC.

Đi nhà trẻ, làm việc tại nhà trẻ

Các tác nhân tiềm tàng từ nhà trẻ bao gồm norovirus, rotavirus, Shigella, Escherichia coli sinh độc tố Shiga (STEC), Cryptosporidia, và Giardia.

Ăn phải thực phẩm không an toàn, ôi thiu hoặc chế biến không cẩn thận (như thịt sống, trứng, hải sản, v.v.)

Nhiễm trùng qua thực phẩm có thể do Campylobacter spp. và Salmonella spp. Gia cầm có thể chứa Salmonella không phải thương hàn, Campylobacter Shigella spp. Thịt bò hoặc nông sản nhiễm bẩn có thể chứa STEC, E. coli 0157:H7, Escherichia coli gây xuất huyết đường ruột (EHEC), và Clostridium perfringens. Thịt heo có thể chứa Yersinia, hoặc C. perfringens. Trứng có thể chứa Salmonella spp.. Hải sản sống có thể chứa norovirus, Vibrio spp., Plesiomonas shigelloides, Aeromonas sp., Shigella Salmonella spp.. Ngộ độc thực phẩm do tụ cầu và Clostridium có thể do các món chứa mayonnaise và cơm có thể chứa Bacillus cereus.

Bơi lội hoặc uống nước ngọt chưa được xử lý

Cryptosporidia là tác nhân có khả năng gặp khi bơi ở hồ bơi công cộng, trong khi Giardia có thể hiện diện trong nước ngọt chưa được xử lý. Các tác nhân khác bao gồm V. cholerae, và norovirus.

Thăm nông trại hoặc tiếp xúc với thú cưng bị tiêu chảy

Các tác nhân tiềm tàng từ nông trại cho tiếp xúc với thú hoặc tiếp xúc với thú cưng bao gồm STEC, Campylobacter, Yersinia, Cryptosporidia. Phân heo có thể chứa Y. enterocolitica hoặc B. coli.

Tiếp xúc với người bệnh khác

Thuốc dùng gần đây hoặc thường xuyên (ví dụ kháng sinh, thuốc kháng acid, thuốc chống nhu động)

Tác nhân tiềm tàng liên quan đến tiền sử dùng kháng sinh có thể bao gồm Clostridioides difficile (C. difficile).

Bệnh nền (ví dụ hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải (AIDS), ức chế miễn dịch, người cao tuổi)

Các tác nhân tiềm tàng ở người suy giảm miễn dịch bao gồm cytomegalovirus, virus Herpes simplex, phức hợp Mycobacterium avium, Cryptosporidia, Cystoisospora belli, Histoplasma, Giardia, Salmonella, Shigella, C. difficile, và vi nấm vi bào (microsporidia).

Quan hệ tình dục qua đường hậu môn hoặc miệng-hậu môn

Các tác nhân có khả năng gặp do tiếp xúc hậu môn bao gồm Shigella (bao gồm chủng đa kháng thuốc), Campylobacter, Salmonella; và các tác nhân khác như E. histolytica lây qua đường phân-miệng.

Nghề nghiệp là người chế biến thực phẩm hoặc người chăm sóc

Phân loại

Tiêu chảy được phân loại như sau:
  • Tiêu chảy cấp là tiêu chảy kéo dài ≤14 ngày. Bệnh nhân không có tiền sử đã được điều trị kháng sinh trong vòng 3 tháng qua, không có tiền sử nhập viện và/hoặc không có tiêu chảy sau >48 giờ kể từ khi nhập viện
  • Tiêu chảy kéo dài là tiêu chảy kéo dài 7-13 ngày
  • Tiêu chảy dai dẳng là tiêu chảy kéo dài >14 ngày nhưng <30 ngày
  • Tiêu chảy mạn tính có thể được xem là tiêu chảy kéo dài ≥30 ngày
  • Tiêu chảy tái phát là tiêu chảy xuất hiện trở lại sau 7 ngày không tiêu chảy
  • Tiêu chảy do nhiễm trùng là tiêu chảy có nguồn gốc nhiễm trùng (vi khuẩn, virus, sinh vật đơn bào, nấm) và thường đi kèm với các triệu chứng buồn nôn và nôn, đau quặn bụng, sốt, mệt mỏi, chán ăn và mất nước. Bệnh thường lây theo đường phân-miệng qua thực phẩm, nước và tiếp xúc người-người
  • Lỵ (tiêu chảy xâm lấn) là sự hiện diện của máu thấy được trong phân tiêu chảy
Tiêu chảy do du lịch

Phân loại tiêu chảy cấp ở người đi du lịch theo mức độ ảnh hưởng chức năng

Tiêu chảy nhẹ được đặc trưng bởi ≤3 lần đi tiêu phân lỏng mỗi ngày hoặc tiêu chảy có thể chịu đựng được, không gây khó chịu và bệnh nhân vẫn có thể đi lại hoặc tham gia các hoạt động theo kế hoạch.

Tiêu chảy trung bình được đặc trưng bởi ≥4 lần đi tiêu mỗi ngày hoặc tiêu chảy gây khó chịu hoặc cản trở kế hoạch đi lại hay hoạt động của bệnh nhân.

Tiêu chảy nặng được đặc trưng bởi ≥6 lần đi tiêu mỗi ngày hoặc tiêu chảy gây suy kiệt hoặc cản trở các hoạt động hàng ngày và làm bệnh nhân không thể thực hiện các chuyến đi hay hoạt động đã lên kế hoạch. Tiêu chảy ra máu (lỵ) được xem là nặng.