Sốt giảm bạch cầu trung tính Tóm tắt về bệnh

Cập nhật: 26 February 2026

Tổng quan

Sốt giảm bạch cầu trung tính được định nghĩa là một lần đo nhiệt độ tại miệng ≥38,3°C (101°F) hoặc hai lần đo liên tiếp ≥38,0°C (100,4°F) trong 2 giờ và số lượng tuyệt đối bạch cầu đa nhân trung tính (ANC) <500/μL (<0,5 x 109/L) hoặc ANC <1.000/μL và dự kiến sẽ giảm xuống ≤500/μL (<0,5 x 109/L) trong 48 giờ tới, như đã nêu ở phần Giới thiệu.

Sốt giảm bạch cầu trung tính thường gặp ở bệnh nhân nhận hóa trị gây độc tế bào. Bàn luận chi tiết về tỷ lệ hiện mắc của sốt giảm bạch cầu trung tính có ở phần Dịch tễ học.

Nhiễm khuẩn, nấm và virus là các nguyên nhân gây sốt giảm bạch cầu trung tính, trong đó vi khuẩn là nguyên nhân thường gặp nhất. Thảo luận về các tác nhân gây bệnh này có ở phần Nguyên nhân.

Phần Sinh bệnh học nêu rằng các yếu tố góp phần gây sốt giảm bạch cầu trung tính bao gồm tác động trực tiếp của hóa trị hoặc liệu pháp ức chế miễn dịch lên hệ miễn dịch và hàng rào niêm mạc, và các tình trạng suy giảm miễn dịch liên quan đến ung thư nguyên phát. Quá trình hình thành sốt giảm bạch cầu trung tính nằm trong phần này.

Febrile Neutropenia_Disease SummaryFebrile Neutropenia_Disease Summary

Tiền sử và khám thực thể

Phần Biểu hiện lâm sàng nhấn mạnh sự cần thiết phải xác định các vị trí nhiễm trùng tiềm tàng và tác nhân gây bệnh ở bệnh nhân sốt giảm bạch cầu trung tính.

Cần khai thác đầy đủ tiền sử của bệnh nhân sốt giảm bạch cầu trung tính, như đã nêu ở phần Tiền sử. Phần Khám thực thể nêu rằng cần khám lâm sàng kỹ lưỡng, đặc biệt tại các vị trí nhiễm trùng thường gặp nhất.

Các công cụ dùng để xác định nơi chăm sóc phù hợp, nguy cơ biến chứng y khoa và nhiễm trùng nặng, và nhóm nguy cơ dựa trên phác đồ hóa trị trong đánh giá bệnh nhân sốt giảm bạch cầu trung tính được thảo luận ở phần Sàng lọc.

Chẩn đoán

Các thảo luận về xét nghiệm máu, cấy máu và cấy theo vị trí, tổng phân tích nước tiểu, và xét nghiệm nhiễm virus trong đánh giá sốt giảm bạch cầu trung tính có ở phần Xét nghiệm và hỗ trợ chẩn đoán.

Phần Hình ảnh học nói về nhu cầu chụp X-quang ngực cho bệnh nhân có triệu chứng hô hấp hoặc khi điều trị ngoại trú của sốt giảm bạch cầu trung tính.

Các tình trạng khác cần được loại trừ khi chẩn đoán sốt giảm bạch cầu trung tính được liệt kê ở phần Chẩn đoán phân biệt.

Xử trí

Nơi chăm sóc và đánh giá liệu pháp kháng sinh được xem xét trong điều trị sốt giảm bạch cầu trung tính và được thảo luận trong phần Đánh giá.

Nguyên tắc điều trị chung ở bệnh nhân sốt giảm bạch cầu trung tính có ở phần Nguyên tắc điều trị.

Phần Điều trị bằng thuốc thảo luận chi tiết về liệu pháp kháng sinh và kháng nấm theo kinh nghiệm, và các yếu tố tăng trưởng dòng bạch cầu hạt (MGF) trong điều trị sốt giảm bạch cầu trung tính.

Phần Phòng ngừa thảo luận về hóa dự phòng, các yếu tố kích thích dòng bạch cầu hạt (G-CSF), và tiêm chủng như là các lựa chọn phòng ngừa sốt giảm bạch cầu trung tính.

Phần Theo dõi nêu các chỉ định tái khám ở bệnh nhân sốt giảm bạch cầu trung tính.