Bệnh trào ngược dạ dày thực quản (GERD) Đánh giá ban đầu

Cập nhật: 13 February 2026

Biểu hiện lâm sàng

Các triệu chứng điển hình là ợ nóng và trào ngược acid. Ợ nóng là cảm giác nóng rát sau xương ức, trong khi trào ngược acid là cảm nhận dòng dịch dạ dày trào ngược lên miệng hoặc dưới họng. Các triệu chứng khác khi khởi phát bao gồm buồn nôn, đau ngực, đau thượng vị, ợ hơi, no sớm, và đầy hơi. Đau ngực không do tim (NCCP) thường gặp ở bệnh nhân châu Á và có thể là một biểu hiện của bệnh trào ngược dạ dày thực quản.

Tiền sử

Chẩn đoán lâm sàng

Tiền sử

Vì bệnh trào ngược dạ dày thực quản xảy ra với rất ít, nếu có, các bất thường khi khám thực thể, nên khai thác tiền sử tốt là điều thiết yếu để xác lập chẩn đoán bệnh trào ngược dạ dày thực quản. Các biểu hiện của bệnh trào ngược dạ dày thực quản xuất hiện theo nhiều cách:

A. Dựa trên triệu chứng học

Gastroesophageal Reflux Disease_Initial AssesmentGastroesophageal Reflux Disease_Initial Assesment


Phân loại này cho phép dùng các triệu chứng để miêu tả bệnh. Các biểu hiện của bệnh trào ngược dạ dày thực quản được chia thành hội chứng thực quản và hội chứng ngoài thực quản.

1. Hội chứng thực quản được đặc trưng bởi một nhóm triệu chứng có thể hoặc không thể được xác định thêm bằng các xét nghiệm chẩn đoán. Hội chứng triệu chứng thực quản đề cập đến những bệnh nhân chưa được khảo sát, có triệu chứng thực quản nhưng không có bằng chứng tổn thương thực quản. Bao gồm hội chứng trào ngược điển hình được định nghĩa bởi sự hiện diện của triệu chứng ợ nóng và/hoặc trào ngược acid gây phiền toái, là các triệu chứng đặc trưng của bệnh trào ngược dạ dày thực quản, và có thể được chẩn đoán tại phòng khám khi các triệu chứng này hiện diện. Hội chứng trào ngược điển hình thường có thể được chẩn đoán mà không cần xét nghiệm chẩn đoán; tuy nhiên, trước tiên cần loại trừ các triệu chứng báo động.

Các triệu chứng báo động là các đặc điểm làm tăng mạnh nghi ngờ có biến chứng hoặc ác tính. Bao gồm xuất huyết tiêu hóa (GI), thiếu máu, khối ở bụng, sụt cân không giải thích được, nôn, nuốt khó tiến triển, đau khi nuốt, đau dai dẳng, hạch to, tiền sử gia đình ung thư tuyến thực quản hoặc dạ dày, khàn tiếng, ho tái phát hoặc triệu chứng phế quản, và khởi phát triệu chứng ở tuổi 45-55 (thấp hơn ở các vùng châu Á). Những triệu chứng này có giá trị dự báo thấp và gợi ý bệnh ác tính giai đoạn muộn hơn là sớm. Ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương, bệnh nhân có triệu chứng báo động có khả năng bị ung thư dạ dày hơn là ung thư thực quản do tỷ lệ loét dạ dày - tá tràng và ung thư dạ dày cao hơn tại khu vực này. Có bằng chứng hạn chế về vai trò của chúng như một công cụ chẩn đoán nhưng các đặc điểm báo động riêng lẻ có giá trị tốt nhất để xác định ung thư thực quản hoặc dạ dày là sụt cân, nuốt khó, và khối u vùng thượng vị khi khám. Các hội chứng thực quản có tổn thương thực quản bao gồm bệnh nhân có tổn thương thực quản có thể chứng minh được (ví dụ: viêm thực quản do trào ngược, hẹp thực quản, Barrett thực quản, ung thư tuyến).

2. Hội chứng ngoài thực quản và các tình trạng có liên quan đã được xác lập được định nghĩa là các tình trạng đã được xác lập có mối liên quan với bệnh trào ngược dạ dày thực quản dựa trên các nghiên cứu quần thể. Ví dụ gồm hội chứng ho do trào ngược, hội chứng hen do trào ngược, hội chứng viêm thanh quản do trào ngược, và hội chứng mòn răng do trào ngược. Hiếm khi các hội chứng ngoài thực quản xảy ra đơn độc mà không có biểu hiện đồng thời của hội chứng thực quản điển hình. Các hội chứng này thường đa yếu tố, trong đó bệnh trào ngược dạ dày thực quản chỉ là một trong nhiều yếu tố làm nặng tiềm tàng khác.

3. Hội chứng ngoài thực quản và các tình trạng đề xuất có liên quan được định nghĩa là các tình trạng mà mối liên quan nhân quả với bệnh trào ngược dạ dày thực quản chưa rõ ràng hoặc thiếu bằng chứng. Ví dụ gồm viêm xoang, viêm họng, viêm tai giữa tái phát, và xơ phổi.

B. Dựa trên phát hiện nội soi

1. Bệnh trào ngược xói mòn (ERD)

Bệnh trào ngược xói mòn được định nghĩa bởi sự hiện diện của tổn thương niêm mạc thực quản. Ví dụ gồm viêm thực quản xói mòn và Barrett thực quản.

2. Bệnh trào ngược không xói mòn (NERD)

Bệnh trào ngược không xói mòn được định nghĩa là không có tổn thương niêm mạc thực quản (bệnh trào ngược âm tính trên nội soi) trong bối cảnh có các triệu chứng liên quan đến trào ngược gây phiền toái mà không dùng điều trị ức chế acid gần đây. Tình trạng này thường gặp hơn ở châu Á.

Yếu tố khởi phát

Các yếu tố khởi phát là cà phê, sô cô la, thức ăn nhiều chất béo, và thức ăn có tính acid (ví dụ: món cay, cam quýt, đồ uống có ga).

Tiền sử dùng thuốc

Nhiều thuốc và sản phẩm nội tiết thường gặp có liên quan đến bệnh trào ngược dạ dày thực quản (GERD). Ví dụ: thuốc kháng cholinergic, benzodiazepin, thuốc đối kháng kênh canxi (CCB), dopamine, nicotine, nitrate , theophylline, estrogen, progesterone, glucagon, một số prostaglandin, và thuốc kháng viêm không steroid (NSAID), bisphosphonate, và kháng sinh.

Khám thực thể

Thông thường, kết quả khám thực thể bình thường. Các dấu hiệu cảnh báo không điển hình trong bệnh trào ngược dạ dày thực quản có thể bao gồm hạch to, khối u vùng thượng vị, hoặc dấu hiệu thiếu máu.