Biến chứng
Các biến chứng của lạc nội mạc tử cung bao gồm đau, vấn đề về khả năng sinh sản và nguy cơ phát triển ung thư buồng trứng.
Vô sinh do lạc nội mạc tử cung
Cần phải tiến hành đánh giá vô sinh để xác định các nguyên nhân tiềm ẩn ở cả hai vợ chồng. Khi lập kế hoạch điều trị, cần xem xét các yếu tố như tuổi của người phụ nữ, thời gian đã cố gắng nhưng không thể mang thai, triệu chứng đau vùng chậu và mức độ nghiêm trọng của lạc nội mạc tử cung. Đối với những bệnh nhân có triệu chứng đáng kể gợi ý lạc nội mạc tử cung (ví dụ: đau, đau bụng kinh, đau khi giao hợp) mà chưa được điều trị phẫu thuật ban đầu, có thể thực hiện nội soi ổ bụng mở để chẩn đoán đồng thời đốt hoặc cắt bỏ các mô lạc nội mạc tử cung. Đối với những bệnh nhân đã trải qua điều trị phẫu thuật ban đầu cho lạc nội mạc tử cung, cần cân nhắc giữa những rủi ro tiềm ẩn của phẫu thuật lớn và những lợi ích hạn chế của các thủ thuật phẫu thuật khác, vì điều trị phẫu thuật lặp lại không cải thiện khả năng sinh sản. Đối với phụ nữ <35 tuổi mắc nội lạc tử cung nhẹ (giai đoạn I/II), có thể xem xét theo dõi chờ đợi (giao hợp đúng thời điểm trong 6 tháng) hoặc kích thích rụng rứng (SO) kết hợp với thụ tinh nhân tạo bơm tinh trùng vào buồng tử cung (IUI). Đối với phụ nữ ≥35 tuổi, có thể xem xét các phương pháp điều trị tích cực hơn như kích thích buồng trứng/thụ tinh nhân tạo (SO/IUI) hoặc thụ tinh trong ống nghiệm (IVF). Sử dụng thuốc đồng vận GnRH trong 3-6 tháng IVF có tể làm tăng tỉ lệ mang thai. Đối với bệnh nhân mắc lạc nội mạc tử cung giai đoạn nặng (giai đoạn III/IV), IVF là một lựa chọn điều trị hiệu quả.
Vô sinh do lạc nội mạc tử cung
Cần phải tiến hành đánh giá vô sinh để xác định các nguyên nhân tiềm ẩn ở cả hai vợ chồng. Khi lập kế hoạch điều trị, cần xem xét các yếu tố như tuổi của người phụ nữ, thời gian đã cố gắng nhưng không thể mang thai, triệu chứng đau vùng chậu và mức độ nghiêm trọng của lạc nội mạc tử cung. Đối với những bệnh nhân có triệu chứng đáng kể gợi ý lạc nội mạc tử cung (ví dụ: đau, đau bụng kinh, đau khi giao hợp) mà chưa được điều trị phẫu thuật ban đầu, có thể thực hiện nội soi ổ bụng mở để chẩn đoán đồng thời đốt hoặc cắt bỏ các mô lạc nội mạc tử cung. Đối với những bệnh nhân đã trải qua điều trị phẫu thuật ban đầu cho lạc nội mạc tử cung, cần cân nhắc giữa những rủi ro tiềm ẩn của phẫu thuật lớn và những lợi ích hạn chế của các thủ thuật phẫu thuật khác, vì điều trị phẫu thuật lặp lại không cải thiện khả năng sinh sản. Đối với phụ nữ <35 tuổi mắc nội lạc tử cung nhẹ (giai đoạn I/II), có thể xem xét theo dõi chờ đợi (giao hợp đúng thời điểm trong 6 tháng) hoặc kích thích rụng rứng (SO) kết hợp với thụ tinh nhân tạo bơm tinh trùng vào buồng tử cung (IUI). Đối với phụ nữ ≥35 tuổi, có thể xem xét các phương pháp điều trị tích cực hơn như kích thích buồng trứng/thụ tinh nhân tạo (SO/IUI) hoặc thụ tinh trong ống nghiệm (IVF). Sử dụng thuốc đồng vận GnRH trong 3-6 tháng IVF có tể làm tăng tỉ lệ mang thai. Đối với bệnh nhân mắc lạc nội mạc tử cung giai đoạn nặng (giai đoạn III/IV), IVF là một lựa chọn điều trị hiệu quả.
