Xét nghiệm và hỗ trợ chẩn đoán
Để xác định nguyên nhân của cơn co giật hoặc xác định các tình trạng có thể điều trị hoặc cơn co giật có triệu chứng cấp tính, cần thực hiện các xét nghiệm sau: Đường huyết; creatinin, urea nitrogen và điện giải; xét nghiệm chức năng gan (LFT); nồng độ Na, Ca và Mg huyết thanh; xét nghiệm phát hiện ma túy hoặc rượu trong máu hoặc nước tiểu nếu có chỉ định; và chọc dò tủy sống khi nghi ngờ viêm màng não hoặc viêm não.
Hình ảnh học
Điện não đồ (EEG)
Epilepsy_Diagnostics 1
Điện não đồ nên được xem xét như một phần của đánh giá chẩn đoán thần kinh thường quy ở người lớn có một cơn co giật không do kích thích, có khả năng tái phát thành động kinh. Lý tưởng là thực hiện sớm nhất có thể (trong vòng 72 giờ sau cơn động kinh). Có thể thực hiện các thao tác kích thích như tăng thông khí, kích thích ánh sáng và nghiệm pháp gây mất ngủ. Điều này giúp xác định sự hiện diện của hoạt động dạng động kinh và loại cũng như vị trí của hoạt động dạng động kinh. Hạn chế của điện não đồ gồm: EEG bất thường tương đối thường gặp ở người cao tuổi, bệnh nhân đau nửa đầu, bệnh tâm thần và người đang dùng thuốc hướng thần; các bất thường EEG không đặc hiệu không nên được diễn giải để xác nhận chẩn đoán động kinh; điện não đồ có thể bình thường ở một số bệnh nhân động kinh; và EEG bình thường không nên loại trừ chẩn đoán động kinh. Cân nhắc EEG video để chẩn đoán phân biệt các cơn kịch phát bao gồm cơn co giật do động kinh, cơn co giật thực thể không do động kinh và cơn co giật tâm sinh không do động kinh, phân loại cơn co giật và hội chứng điện nãolâm sàng, định lượng cơn co giật và phản ứng điện cực não giữa các cơn động kinh và trong cơn động kinh, và đánh giá trước phẫu thuật ở bệnh nhân động kinh kháng trị với điều trị nội khoa.
Hình ảnh não
Epilepsy_Diagnostics 2
Hình ảnh não nên được xem xét như một phần của đánh giá chẩn đoán thần kinh thường quy ở người lớn xuất hiện với cơn co giật đầu tiên có vẻ không do kích thích. Chụp cộng hưởng từ (MRI) là phương pháp chẩn đoán hình ảnh não được lựa chọn ở bệnh nhân động kinh. Phương pháp này hữu ích ở bệnh nhân có khởi phát cơn cục bộ theo bệnh sử, thăm khám lâm sàng hoặc EEG và ở những người có cơn co giật tiếp diễn dù đã điều trị phù hợp bằng thuốc chống động kinh/chống co giật đầu tay. Khuyến cáo thực hiện trong vòng 6 tuần. Các chuỗi MRI chuyên biệt được dùng để phát hiện loạn sản vỏ não và xơ cứng thùy thái dương trung tâm. Chụp cắt lớp vi tính (CT) có thể được sử dụng nếu cần đánh giá khẩn cấp cơn co giật cấp tính, hoặc khi chống chỉ định chụp cộng hưởng từ. Chụp FDG-PET não giữa các cơn co giật được dùng để xác định vùng giảm chuyển hóa của não. Chụp cắt lớp vi tính phát xạ đơn photon (SPECT) trong cơn co giật được dùng để định vị ổ động kinh.
Epilepsy_Diagnostics 1Điện não đồ nên được xem xét như một phần của đánh giá chẩn đoán thần kinh thường quy ở người lớn có một cơn co giật không do kích thích, có khả năng tái phát thành động kinh. Lý tưởng là thực hiện sớm nhất có thể (trong vòng 72 giờ sau cơn động kinh). Có thể thực hiện các thao tác kích thích như tăng thông khí, kích thích ánh sáng và nghiệm pháp gây mất ngủ. Điều này giúp xác định sự hiện diện của hoạt động dạng động kinh và loại cũng như vị trí của hoạt động dạng động kinh. Hạn chế của điện não đồ gồm: EEG bất thường tương đối thường gặp ở người cao tuổi, bệnh nhân đau nửa đầu, bệnh tâm thần và người đang dùng thuốc hướng thần; các bất thường EEG không đặc hiệu không nên được diễn giải để xác nhận chẩn đoán động kinh; điện não đồ có thể bình thường ở một số bệnh nhân động kinh; và EEG bình thường không nên loại trừ chẩn đoán động kinh. Cân nhắc EEG video để chẩn đoán phân biệt các cơn kịch phát bao gồm cơn co giật do động kinh, cơn co giật thực thể không do động kinh và cơn co giật tâm sinh không do động kinh, phân loại cơn co giật và hội chứng điện nãolâm sàng, định lượng cơn co giật và phản ứng điện cực não giữa các cơn động kinh và trong cơn động kinh, và đánh giá trước phẫu thuật ở bệnh nhân động kinh kháng trị với điều trị nội khoa.
Hình ảnh não
Epilepsy_Diagnostics 2Hình ảnh não nên được xem xét như một phần của đánh giá chẩn đoán thần kinh thường quy ở người lớn xuất hiện với cơn co giật đầu tiên có vẻ không do kích thích. Chụp cộng hưởng từ (MRI) là phương pháp chẩn đoán hình ảnh não được lựa chọn ở bệnh nhân động kinh. Phương pháp này hữu ích ở bệnh nhân có khởi phát cơn cục bộ theo bệnh sử, thăm khám lâm sàng hoặc EEG và ở những người có cơn co giật tiếp diễn dù đã điều trị phù hợp bằng thuốc chống động kinh/chống co giật đầu tay. Khuyến cáo thực hiện trong vòng 6 tuần. Các chuỗi MRI chuyên biệt được dùng để phát hiện loạn sản vỏ não và xơ cứng thùy thái dương trung tâm. Chụp cắt lớp vi tính (CT) có thể được sử dụng nếu cần đánh giá khẩn cấp cơn co giật cấp tính, hoặc khi chống chỉ định chụp cộng hưởng từ. Chụp FDG-PET não giữa các cơn co giật được dùng để xác định vùng giảm chuyển hóa của não. Chụp cắt lớp vi tính phát xạ đơn photon (SPECT) trong cơn co giật được dùng để định vị ổ động kinh.
