Giới thiệu
Ung thư dạ dày còn được gọi là ung thư biểu mô dạ dày. Đây là bướu ác tính của đường tiêu hóa, thường diễn tiến nhanh và biểu hiện ở giai đoạn tiến xa. Các vị trí phổ biến nhất của ung thư dạ dày là đoạn gần bờ cong nhỏ, tâm vị và chỗ nối thực quản-dạ dày (EGJ).
Dịch tễ học
Ung thư dạ dày là loại ung thư phổ biến thứ năm và là nguyên nhân gây tử vong do ung thư phổ biến thứ ba trên toàn thế giới. Bệnh phổ biến ở nam giới hơn nữ giới (gấp hai đến ba lần), và tỷ lệ mắc ung thư dạ dày tăng theo tuổi. Tỷ lệ mắc ung thư dạ dày cao nhất ở Đông Bắc Á, Nam và Trung Mỹ, và Đông Âu.
Các khu vực châu Á có tỷ lệ mắc ung thư dạ dày cao bao gồm Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Việt Nam và Mông Cổ, trong khi tỷ lệ mắc ung thư dạ dày thấp hơn được ghi nhận ở Hồng Kông và Malaysia. Tại Nhật Bản và Hàn Quốc, đây là loại ung thư phổ biến nhất ở nam giới, và điều này có thể là do yếu tố di truyền kết hợp với các yếu tố môi trường và lối sống.
Các khu vực châu Á có tỷ lệ mắc ung thư dạ dày cao bao gồm Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Việt Nam và Mông Cổ, trong khi tỷ lệ mắc ung thư dạ dày thấp hơn được ghi nhận ở Hồng Kông và Malaysia. Tại Nhật Bản và Hàn Quốc, đây là loại ung thư phổ biến nhất ở nam giới, và điều này có thể là do yếu tố di truyền kết hợp với các yếu tố môi trường và lối sống.
Sinh lý bệnh
Sự phát triển của ung thư dạ dày kiểu ruột xảy ra sau một quá trình tiền ung thư kéo dài được gọi là chuỗi Correa. Quá trình này bắt đầu bằng nhiễm Helicobacter pylori gây viêm mạn tính niêm mạc dạ dày, tiến triển thành một loạt các tổn thương tiền ung thư (ví dụ: viêm dạ dày không teo, viêm teo dạ dày, loạn sản ruột) và ung thư biểu mô tuyến dạ dày xảy ra do nhiễm trùng kéo dài trong nhiều thập kỷ.
Các yếu tố nguy cơ
Gastric Cancer_Disease BackgroundCác yếu tố nguy cơ cho sự phát triển ung thư dạ dày bao gồm nam giới, tuổi cao (>50 tuổi), nhiễm Helicobacter pylori (thường là nguyên nhân chính), hút thuốc lá, uống rượu, phẫu thuật dạ dày trước đó (ví dụ: cắt dạ dày bán phần), bệnh Menetrier hoặc bệnh lý dạ dày phì đại và viêm teo dạ dày. Chế độ ăn nhiều thực phẩm hun khói, cá thịt ủ muối, rau củ ngâm chua cũng là một yếu tố nguy cơ. Nitrat và nitrit trong những thực phẩm này đã được chứng minh là sản sinh ra vi khuẩn gây ung thư. Chế độ ăn ít trái cây và rau quả, trào ngược dạ dày thực quản, lymphôm dạ dày, thiếu máu ác tính, nhóm máu A, thừa cân hoặc béo phì, hội chứng ung thư di truyền (3-5%) (ví dụ ung thư dạ dày lan tỏa di truyền, ung thư đại trực tràng không polyp di truyền, bệnh đa polyp tuyến gia đình, ung thư vú, hội chứng Li-Fraumeni, hội chứng đa polyp vị thành niên, hội chứng Peutz-Jeghers), tiền sử gia đình mắc ung thư dạ dày (5-10%), virus Epstein-Barr (EBV), một số nghề nghiệp nhất định (ví dụ công nhân ngành than, kim loại và cao su) và bệnh suy giảm miễn dịch đa dạng thông thường cũng là một số yếu tố nguy cơ gây ung thư dạ dày.
Phân loại
Hầu hết các trường hợp ung thư dạ dày (trên 95%) là ung thư biểu mô tuyến, được chia nhỏ theo hình thái mô học thành loại lan tỏa (không biệt hóa) và loại ruột (biệt hóa tốt) (phân loại Lauren).
