Xét nghiệm và hỗ trợ chẩn đoán
Các xét nghiệm cần cân nhắc ở tất cả bệnh nhân nghi ngờ suy tim
Công thức máu toàn bộ (CBC), điện giải đồ, nito urê máu (BUN), creatinin/ độ lọc cầu thận ước tính (eGFR), glucose, troponin, acid uric, canxi, magiê, albumin, hồ sơ lipid, men gan, bilirubin, ferritin và sắt huyết thanh, độ bão hòa transferrin (TSAT), khả năng gắn sắt toàn phần (TIBC), men tim, xét nghiệm chức năng tuyến giáp, tỷ lệ chuẩn hóa quốc tế (INR), protein C phản ứng (CRP), và tổng phân tích nước tiểu là các xét nghiệm cần được cân nhắc ở tất cả bệnh nhân nghi ngờ suy tim. Các xét nghiệm này nhằm phát hiện các nguyên nhân gây suy tim có thể đảo ngược/điều trị được và sự hiện diện của các bệnh đi kèm khác. Cũng có thể cân nhắc đo độ bão hòa oxy mao mạch ngón tay và khí máu động mạch trong trường hợp suy hô hấp, lactate trong trường hợp giảm tưới máu, và lần lượt là D-dimer và procalcitonin khi nghi thuyên tắc phổi và viêm phổi nhiễm trùng.
Heart Failure - Acute_Diagnostics 1
Cũng có thể định lượng peptide natri lợi niệu huyết tương (ví dụ peptide natri lợi niệu type B [BNP], N-terminal pro‑BNP [NT‑proBNP], mid-regional pro atrial natriuretic peptide [MR‑proANP]). Suy tim cấp liên quan tới tăng nồng độ peptide lợi niệu trong huyết tương (BNP ≥100 pg/mL, NT‑proBNP ≥300 pg/mL, MR‑proANP ≥120 pg/mL). Xét nghiệm này được khuyến cáo khi bệnh nhân xuất hiện khó thở nghi ngờ suy tim, đặc biệt khi chẩn đoán chưa chắc chắn, và cũng để loại trừ các nguyên nhân khác gây khó thở. Xét nghiệm này có thể được sử dụng để tiên lượng suy tim khi nhập viện và trước xuất viện. Cũng có thể dùng để sàng lọc những người có nguy cơ phát triển suy tim.
Đo các dấu ấn sinh học tim (ví dụ troponin T tim [cTnT], troponin T độ nhạy cao [hs‑TnT], creatine kinase cơ/não [CKMB]) ở bệnh nhân xuất hiện suy tim mất bù cấp. Sinh thiết cơ tim nội mạc có thể được sử dụng ở bệnh nhân suy tim lâm sàng tiến triển nhanh hoặc rối loạn chức năng thất dù đã điều trị nội khoa thích hợp và ở những người nghi viêm cơ tim hoặc bệnh thâm nhiễm.
Công thức máu toàn bộ (CBC), điện giải đồ, nito urê máu (BUN), creatinin/ độ lọc cầu thận ước tính (eGFR), glucose, troponin, acid uric, canxi, magiê, albumin, hồ sơ lipid, men gan, bilirubin, ferritin và sắt huyết thanh, độ bão hòa transferrin (TSAT), khả năng gắn sắt toàn phần (TIBC), men tim, xét nghiệm chức năng tuyến giáp, tỷ lệ chuẩn hóa quốc tế (INR), protein C phản ứng (CRP), và tổng phân tích nước tiểu là các xét nghiệm cần được cân nhắc ở tất cả bệnh nhân nghi ngờ suy tim. Các xét nghiệm này nhằm phát hiện các nguyên nhân gây suy tim có thể đảo ngược/điều trị được và sự hiện diện của các bệnh đi kèm khác. Cũng có thể cân nhắc đo độ bão hòa oxy mao mạch ngón tay và khí máu động mạch trong trường hợp suy hô hấp, lactate trong trường hợp giảm tưới máu, và lần lượt là D-dimer và procalcitonin khi nghi thuyên tắc phổi và viêm phổi nhiễm trùng.
Heart Failure - Acute_Diagnostics 1Cũng có thể định lượng peptide natri lợi niệu huyết tương (ví dụ peptide natri lợi niệu type B [BNP], N-terminal pro‑BNP [NT‑proBNP], mid-regional pro atrial natriuretic peptide [MR‑proANP]). Suy tim cấp liên quan tới tăng nồng độ peptide lợi niệu trong huyết tương (BNP ≥100 pg/mL, NT‑proBNP ≥300 pg/mL, MR‑proANP ≥120 pg/mL). Xét nghiệm này được khuyến cáo khi bệnh nhân xuất hiện khó thở nghi ngờ suy tim, đặc biệt khi chẩn đoán chưa chắc chắn, và cũng để loại trừ các nguyên nhân khác gây khó thở. Xét nghiệm này có thể được sử dụng để tiên lượng suy tim khi nhập viện và trước xuất viện. Cũng có thể dùng để sàng lọc những người có nguy cơ phát triển suy tim.
Đo các dấu ấn sinh học tim (ví dụ troponin T tim [cTnT], troponin T độ nhạy cao [hs‑TnT], creatine kinase cơ/não [CKMB]) ở bệnh nhân xuất hiện suy tim mất bù cấp. Sinh thiết cơ tim nội mạc có thể được sử dụng ở bệnh nhân suy tim lâm sàng tiến triển nhanh hoặc rối loạn chức năng thất dù đã điều trị nội khoa thích hợp và ở những người nghi viêm cơ tim hoặc bệnh thâm nhiễm.
Hình ảnh học
Các thăm dò cần cân nhắc ở tất cả bệnh nhân nghi ngờ suy tim
Điện tâm đồ (ECG)
Heart Failure - Acute_Diagnostics 2
Điện tâm đồ được sử dụng để đánh giá tần số và nhịp tim, dẫn truyền, mất đồng bộ điện học, giãn buồng tim, khoảng QTc và phát hiện nhồi máu cơ tim (MI) hoặc thiếu máu cục bộ. Xét nghiệm này có giá trị tiên đoán âm cao. Cần thực hiện ngay ở bệnh nhân nghi sốc tim.
Chụp X-quang ngực (X-quang ngực)
Chụp X-quang ngực được thực hiện để loại trừ các nguyên nhân gây khó thở không do tim và để đánh giá kích thước tim, sự hiện diện của sung huyết, bệnh phổi hoặc bệnh lý khác, và vị trí đúng của các thiết bị tim cấy ghép. Các phát hiện đặc hiệu cho suy tim cấp bao gồm tim to, sung huyết tĩnh mạch phổi, tràn dịch màng phổi, và phù mô kẽ hoặc phế nang.
Siêu âm tim
Siêu âm tim được thực hiện để đánh giá cấu trúc và chức năng tim. Đây là phương pháp được lựa chọn ở bệnh nhân nghi ngờ suy tim do tính chính xác, tính khả dụng, độ an toàn và chi phí. Cần thực hiện ngay ở bệnh nhân nghi sốc tim. Cân nhắc thực hiện siêu âm tim trong vòng 48 giờ sau khi nhập viện để định hướng xử trí sớm nếu bệnh nhân không ổn định huyết động và sau khi đạt ổn định, đặc biệt ở suy tim mắc mới. Siêu âm tim có thể được thực hiện nếu nồng độ peptide lợi niệu tăng để loại trừ bất thường do tim. Các phát hiện đặc hiệu cho suy tim cấp tính bao gồm rối loạn chức năng tâm thu thất trái lan tỏa, rối loạn chức năng tâm trương thất trái, và sung huyết tĩnh mạch chủ dưới.
Chụp mạch vành
Heart Failure - Acute_Diagnostics 3
Chụp mạch vành được thực hiện để đánh giá giải phẫu động mạch vành (tức là xác định sự hiện diện và mức độ bệnh ở động mạch vành [CAD]). Đây là xét nghiệm được khuyến cáo ở bệnh nhân đau thắt ngực và bệnh nhân sốc tim phù hợp để tái thông mạch vành. Chụp cắt lớp vi tính đa đầu dò (MDCT) có thể được sử dụng như một lựa chọn thay thế cho chụp mạch vành xâm lấn ở một số bệnh nhân chọn lọc, nhằm loại trừ bệnh động mạch vành có ý nghĩa.
Thông tim
Thông tim được thực hiện để đánh giá bệnh nhân cho thủ thuật ghép tim hoặc hỗ trợ tuần hoàn cơ học, đánh giá chức năng tim phải, tim trái và sức cản động mạch phổi.
Cộng hưởng từ tim (CMR)
Chụp cộng hưởng từ tim được thực hiện để đánh giá cấu trúc và chức năng tim. Xét nghiệm này nhằm mô tả đặc trưng mô tim, đặc biệt ở bệnh nhân có hình ảnh siêu âm tim không đạt yêu cầu hoặc kết quả siêu âm tim không thể kết luận trong các tình trạng chưa được hiểu rõ như viêm cơ tim nhẹ.
Chẩn đoán hình ảnh tưới máu/thiếu máu cơ tim (ví dụ siêu âm tim, cộng hưởng từ tim [CMR], chụp cắt lớp phát xạ đơn photon [SPECT] hoặc Chụp cắt lớp phát xạ positron [PET])
Chẩn đoán hình ảnh tưới máu/thiếu máu cơ tim được thực hiện để đánh giá sự hiện diện của thiếu máu cơ tim có hồi phục và cơ tim còn sống. Xét nghiệm này nên được cân nhắc ở bệnh nhân nghi ngờ có bệnh động mạch vành và phù hợp để tái thông mạch vành.
Nghiệm pháp gắng sức
Nghiệm pháp gắng sức được sử dụng để phát hiện sự hiện diện của thiếu máu cơ tim có hồi phục. Nghiệm pháp này cho phép đánh giá khách quan triệu chứng khi gắng sức và khả năng gắng sức nhằm hỗ trợ chỉ định chương trình luyện tập. Xét nghiệm này hỗ trợ đánh giá bệnh nhân cho thủ thuật ghép tim và hỗ trợ tuần hoàn cơ học, và để thu thập thông tin tiên lượng. Cần thận trọng ở bệnh nhân suy tim cấp, nghiệm pháp gắng sức được thực hiện khi bệnh nhân ổn định hơn.
Điện tâm đồ (ECG)
Heart Failure - Acute_Diagnostics 2Điện tâm đồ được sử dụng để đánh giá tần số và nhịp tim, dẫn truyền, mất đồng bộ điện học, giãn buồng tim, khoảng QTc và phát hiện nhồi máu cơ tim (MI) hoặc thiếu máu cục bộ. Xét nghiệm này có giá trị tiên đoán âm cao. Cần thực hiện ngay ở bệnh nhân nghi sốc tim.
Chụp X-quang ngực (X-quang ngực)
Chụp X-quang ngực được thực hiện để loại trừ các nguyên nhân gây khó thở không do tim và để đánh giá kích thước tim, sự hiện diện của sung huyết, bệnh phổi hoặc bệnh lý khác, và vị trí đúng của các thiết bị tim cấy ghép. Các phát hiện đặc hiệu cho suy tim cấp bao gồm tim to, sung huyết tĩnh mạch phổi, tràn dịch màng phổi, và phù mô kẽ hoặc phế nang.
Siêu âm tim
Siêu âm tim được thực hiện để đánh giá cấu trúc và chức năng tim. Đây là phương pháp được lựa chọn ở bệnh nhân nghi ngờ suy tim do tính chính xác, tính khả dụng, độ an toàn và chi phí. Cần thực hiện ngay ở bệnh nhân nghi sốc tim. Cân nhắc thực hiện siêu âm tim trong vòng 48 giờ sau khi nhập viện để định hướng xử trí sớm nếu bệnh nhân không ổn định huyết động và sau khi đạt ổn định, đặc biệt ở suy tim mắc mới. Siêu âm tim có thể được thực hiện nếu nồng độ peptide lợi niệu tăng để loại trừ bất thường do tim. Các phát hiện đặc hiệu cho suy tim cấp tính bao gồm rối loạn chức năng tâm thu thất trái lan tỏa, rối loạn chức năng tâm trương thất trái, và sung huyết tĩnh mạch chủ dưới.
Chụp mạch vành
Heart Failure - Acute_Diagnostics 3Chụp mạch vành được thực hiện để đánh giá giải phẫu động mạch vành (tức là xác định sự hiện diện và mức độ bệnh ở động mạch vành [CAD]). Đây là xét nghiệm được khuyến cáo ở bệnh nhân đau thắt ngực và bệnh nhân sốc tim phù hợp để tái thông mạch vành. Chụp cắt lớp vi tính đa đầu dò (MDCT) có thể được sử dụng như một lựa chọn thay thế cho chụp mạch vành xâm lấn ở một số bệnh nhân chọn lọc, nhằm loại trừ bệnh động mạch vành có ý nghĩa.
Thông tim
Thông tim được thực hiện để đánh giá bệnh nhân cho thủ thuật ghép tim hoặc hỗ trợ tuần hoàn cơ học, đánh giá chức năng tim phải, tim trái và sức cản động mạch phổi.
Cộng hưởng từ tim (CMR)
Chụp cộng hưởng từ tim được thực hiện để đánh giá cấu trúc và chức năng tim. Xét nghiệm này nhằm mô tả đặc trưng mô tim, đặc biệt ở bệnh nhân có hình ảnh siêu âm tim không đạt yêu cầu hoặc kết quả siêu âm tim không thể kết luận trong các tình trạng chưa được hiểu rõ như viêm cơ tim nhẹ.
Chẩn đoán hình ảnh tưới máu/thiếu máu cơ tim (ví dụ siêu âm tim, cộng hưởng từ tim [CMR], chụp cắt lớp phát xạ đơn photon [SPECT] hoặc Chụp cắt lớp phát xạ positron [PET])
Chẩn đoán hình ảnh tưới máu/thiếu máu cơ tim được thực hiện để đánh giá sự hiện diện của thiếu máu cơ tim có hồi phục và cơ tim còn sống. Xét nghiệm này nên được cân nhắc ở bệnh nhân nghi ngờ có bệnh động mạch vành và phù hợp để tái thông mạch vành.
Nghiệm pháp gắng sức
Nghiệm pháp gắng sức được sử dụng để phát hiện sự hiện diện của thiếu máu cơ tim có hồi phục. Nghiệm pháp này cho phép đánh giá khách quan triệu chứng khi gắng sức và khả năng gắng sức nhằm hỗ trợ chỉ định chương trình luyện tập. Xét nghiệm này hỗ trợ đánh giá bệnh nhân cho thủ thuật ghép tim và hỗ trợ tuần hoàn cơ học, và để thu thập thông tin tiên lượng. Cần thận trọng ở bệnh nhân suy tim cấp, nghiệm pháp gắng sức được thực hiện khi bệnh nhân ổn định hơn.
