Nhiễm Helicobacter pylori Tổng quan về bệnh

Cập nhật: 23 February 2025

Giới thiệu

Khó tiêu

Khó tiêu là sự hiện diện của ≥1 trong các triệu chứng sau: Cảm giác đầy bụng sau khi ăn gây khó chịu, no sớm, đau thượng vị và nóng rát thượng vị. Không có bằng chứng cho thấy tổn thương cấu trúc có khả năng giải thích các triệu chứng. Các triệu chứng hiện diện trong 3 tháng gần đây với khởi phát ≥6 tháng trước khi chẩn đoán (tiêu chuẩn Rome IV). Mặc dù mối liên quan giữa khó tiêu chức năng và H. pylori chưa rõ ràng, nhưng việc tiệt trừ H. pylori đã cho thấy cải thiện triệu chứng khó tiêu chức năng.

Helicobacter pylori

Helicobacter pylori Infection_Disease BackgroundHelicobacter pylori Infection_Disease Background


Helicobacter pylori là xoắn khuẩn, Gram âm, có liên quan đến sự phát triển của viêm dạ dày, loét tá tràng và dạ dày, và ung thư dạ dày. Viêm dạ dày do Helicobacter pylori có thể làm giảm hoặc tăng tiết acid và gây ra các triệu chứng khó tiêu. Có tới 90-95% bệnh nhân loét tá tràng liên quan đến thuốc kháng viêm không steroid (NSAID) và 80% bệnh nhân loét dạ dày không liên quan đến NSAID bị nhiễm. Khả năng thích nghi trong môi trường dạ dày và sản xuất urease cho phép vi khuẩn này cư trú ở dạ dày. Nhiễm cấp tính chủ yếu không có triệu chứng và mắc phải qua lây truyền người - người theo các đường miệng - miệng, dạ dày - miệng và phân - miệng. Nhiễm mạn tính có liên quan chặt chẽ với sự phát triển của các ung thư biểu mô và lympho của dạ dày.

Dịch tễ học

Tỷ lệ hiện mắc H. pylori trên toàn cầu khác nhau đáng kể và bị ảnh hưởng bởi các yếu tố như tình trạng kinh tế của quốc gia, cũng như giới tính, chủng tộc và điều kiện kinh tế - xã hội tổng thể của từng cá nhân. Ở các quốc gia phát triển, tỷ lệ nhiễm thường dao động từ 25% đến 50%, trong khi ở nhiều quốc gia đang phát triển, tỷ lệ hiện mắc có thể lên tới 90%. Các nghiên cứu cho thấy H. pylori là nguyên nhân của khoảng 74% các trường hợp ung thư dạ dày không thuộc vùng tâm vị ở các quốc gia phát triển và 78% ở các khu vực kém phát triển hơn.

Ở châu Á và châu Phi, tỷ lệ hiện mắc H. pylori thay đổi rất rộng. Hầu hết các quốc gia châu Phi báo cáo tỷ lệ nhiễm vượt quá 50%. Ở châu Á, tỷ lệ hiện mắc cũng cao ở một số quốc gia—như Hàn Quốc (43,9%) và Trung Quốc (44,2%)—nhưng thấp đáng kể ở các nước khác, bao gồm Indonesia (10,4%) và Sri Lanka (2,5%).

Sinh bệnh học

Helicobacter pylori Infection_Initial AssesmentHelicobacter pylori Infection_Initial Assesment


Nhiễm Helicobacter pylori thường mắc phải từ thời thơ ấu và nếu không được điều trị đặc hiệu, có xu hướng tồn tại suốt đời. Khi đã xâm nhập, H. pylori bám vào hoặc xuyên qua niêm mạc dạ dày, khởi phát viêm tại chỗ ở dạ dày và các đáp ứng viêm toàn thân, có thể góp phần gây ra các bệnh lý ngoài đường tiêu hóa. Khi vi khuẩn đã cư trú ở lớp lót dạ dày, chúng hoạt hóa các tế bào miễn dịch tạo ra các chất trung gian tiền viêm bao gồm cytokine, eicosanoid và các protein pha cấp. Các quá trình này dẫn đến phổ biến đổi ở dạ dày, từ viêm dạ dày nông hoạt động đến viêm dạ dày sâu mạn tính, và có thể tiến triển đến chuyển sản ruột hoặc thậm chí ung thư dạ dày.

Yếu tố nguy cơ

Các yếu tố nguy cơ của nhiễm Helicobacter pylori bao gồm tuổi, giới tính nam, tình trạng vệ sinh, sống trong khu vực quá đông đúc, tình trạng kinh tế - xã hội kém, hút thuốc, dùng NSAID và viêm nha chu. Tuổi giúp dự đoán cả khả năng nhiễm H. pylori và nguy cơ phát triển chuyển sản ruột sau đó. Tỷ lệ nhiễm H. pylori cao hơn đã được ghi nhận ở những người sống trong môi trường đông đúc. Hút thuốc được công nhận rộng rãi là yếu tố góp phần làm tăng dương tính với H. pylori. Viêm nha chu là một bệnh viêm mạn tính ảnh hưởng đến các mô nâng đỡ răng và liên quan đến tăng số lượng vi sinh vật khiến khoang miệng trở thành ổ chứa vi khuẩn. Một nghiên cứu hồi cứu quy mô lớn ở Đài Loan cho thấy viêm nha chu có liên quan đến nguy cơ cao hơn nhiễm H. pylori.