Biểu hiện lâm sàng
Cần khai thác bệnh sử và khám thực thể kỹ lưỡng để loại trừ các nguyên nhân khác gây triệu chứng khó tiêu (ví dụ tim mạch, đường mật - gan, do thuốc [ví dụ NSAID], ăn uống bừa bãi, lối sống, v.v.).
Bệnh nhân có triệu chứng trội là ợ nóng hoặc trào ngược acid mà không có tiền sử bệnh loét dạ dày - tá tràng (PUD) thì không cần xét nghiệm nhiễm Helicobacter pylori mà nên được điều trị bệnh trào ngược dạ dày thực quản (GERD).
Vui lòng xem sơ đồ quản lý bệnh Trào ngược dạ dày thực quản để biết thêm thông tin.
Bệnh nhân có triệu chứng trội là ợ nóng hoặc trào ngược acid mà không có tiền sử bệnh loét dạ dày - tá tràng (PUD) thì không cần xét nghiệm nhiễm Helicobacter pylori mà nên được điều trị bệnh trào ngược dạ dày thực quản (GERD).
Vui lòng xem sơ đồ quản lý bệnh Trào ngược dạ dày thực quản để biết thêm thông tin.
Sàng lọc
Tiệt trừ H. pylori dẫn đến lành vết loét và giảm đáng kể tỷ lệ tái phát cũng như biến chứng (ví dụ chảy máu, thủng). Loại trừ nhiễm khuẩn làm giảm tỷ lệ ung thư dạ dày; cải thiện viêm dạ dày và teo dạ dày nhưng không cải thiện chuyển sản ruột. Cần có phác đồ đa thuốc, thời gian điều trị thích hợp và tuân thủ điều trị để đạt tiệt trừ. Khuyến cáo áp dụng chiến lược “xét nghiệm và điều trị” ở các cá nhân và cộng đồng có nguy cơ cao bị ung thư dạ dày.
“Xét nghiệm và điều trị” đối với Helicobacter pylori
Khuyến cáo mạnh mẽ cho các bệnh nhân với các bệnh lý sau đây nên được xét nghiệm Helicobacter pylori và nếu xét nghiệm dương tính với H. pylori, cần tiến hành điều trị tiệt trừ nhiễm khuẩn: Bệnh nhân dùng NSAID và aspirin có tiền sử bệnh loét dạ dày - tá tràng (PUD) trong đó NSAID làm tăng nguy cơ phát triển biến chứng ở bệnh nhân đồng nhiễm H. pylori; loét tiêu hóa có biến chứng và không biến chứng (loét dạ dày hoặc tá tràng hiện mắc hoặc có tiền sử); u mô lympho liên quan đến niêm mạc (MALT) dạ dày; tiền sử u lympho trong khi dùng liệu pháp NSAID; khó tiêu chưa được khảo sát; xuất huyết giảm tiểu cầu miễn dịch (ITP); sau khi cắt bỏ ung thư dạ dày giai đoạn sớm; tiền sử gia đình có ung thư dạ dày; thiếu máu thiếu sắt không giải thích được; và người trưởng thành sống cùng nhà với bệnh nhân có xét nghiệm không huyết thanh học dương tính đối với Helicobacter pylori.
Các nhóm bệnh nhân khác
Bệnh nhân người lớn <50 tuổi (<40 tuổi ở các khu vực có tỷ lệ ung thư dạ dày cao) có biểu hiện khó tiêu kéo dài và không có triệu chứng trội của GERD, không dùng NSAID và không có triệu chứng báo động có thể được tiếp cận theo hai cách: Điều trị theo kinh nghiệm hoặc có thể xét nghiệm Helicobacter pylori trước khi thử điều trị bằng thuốc.
Điều trị theo kinh nghiệm
Điều trị theo kinh nghiệm trong 2-4 tuần bằng một thuốc ức chế tiết thích hợp và/hoặc thuốc tăng nhu động. Nếu triệu chứng không cải thiện với các thử nghiệm thích hợp bằng thuốc ức chế bơm proton (PPI), thuốc đối kháng thụ thể histamine 2 (H2RA) hoặc thuốc tăng nhu động, hãy cân nhắc nội soi.
Có thể xét nghiệm Helicobacter pylori trước khi thử điều trị bằng thuốc
Các bệnh nhân này có thể được cân nhắc áp dụng chiến lược “xét nghiệm và điều trị” nhưng điều này còn gây tranh cãi trong chứng khó tiêu không do loét. Khả năng khi tiệt trừ H. pylori sẽ làm giảm triệu chứng là thấp, nhưng có thể làm giảm nguy cơ loét dạ dày - tá tràng trong tương lai. Có thể thực hiện nội soi trước để xác định bệnh loét dạ dày - tá tràng và chỉ điều trị H. pylori ở bệnh nhân có loét dạ dày - tá tràng.
“Xét nghiệm và điều trị” đối với Helicobacter pylori
Khuyến cáo mạnh mẽ cho các bệnh nhân với các bệnh lý sau đây nên được xét nghiệm Helicobacter pylori và nếu xét nghiệm dương tính với H. pylori, cần tiến hành điều trị tiệt trừ nhiễm khuẩn: Bệnh nhân dùng NSAID và aspirin có tiền sử bệnh loét dạ dày - tá tràng (PUD) trong đó NSAID làm tăng nguy cơ phát triển biến chứng ở bệnh nhân đồng nhiễm H. pylori; loét tiêu hóa có biến chứng và không biến chứng (loét dạ dày hoặc tá tràng hiện mắc hoặc có tiền sử); u mô lympho liên quan đến niêm mạc (MALT) dạ dày; tiền sử u lympho trong khi dùng liệu pháp NSAID; khó tiêu chưa được khảo sát; xuất huyết giảm tiểu cầu miễn dịch (ITP); sau khi cắt bỏ ung thư dạ dày giai đoạn sớm; tiền sử gia đình có ung thư dạ dày; thiếu máu thiếu sắt không giải thích được; và người trưởng thành sống cùng nhà với bệnh nhân có xét nghiệm không huyết thanh học dương tính đối với Helicobacter pylori.
Các nhóm bệnh nhân khác
Bệnh nhân người lớn <50 tuổi (<40 tuổi ở các khu vực có tỷ lệ ung thư dạ dày cao) có biểu hiện khó tiêu kéo dài và không có triệu chứng trội của GERD, không dùng NSAID và không có triệu chứng báo động có thể được tiếp cận theo hai cách: Điều trị theo kinh nghiệm hoặc có thể xét nghiệm Helicobacter pylori trước khi thử điều trị bằng thuốc.
Điều trị theo kinh nghiệm
Điều trị theo kinh nghiệm trong 2-4 tuần bằng một thuốc ức chế tiết thích hợp và/hoặc thuốc tăng nhu động. Nếu triệu chứng không cải thiện với các thử nghiệm thích hợp bằng thuốc ức chế bơm proton (PPI), thuốc đối kháng thụ thể histamine 2 (H2RA) hoặc thuốc tăng nhu động, hãy cân nhắc nội soi.
Có thể xét nghiệm Helicobacter pylori trước khi thử điều trị bằng thuốc
Các bệnh nhân này có thể được cân nhắc áp dụng chiến lược “xét nghiệm và điều trị” nhưng điều này còn gây tranh cãi trong chứng khó tiêu không do loét. Khả năng khi tiệt trừ H. pylori sẽ làm giảm triệu chứng là thấp, nhưng có thể làm giảm nguy cơ loét dạ dày - tá tràng trong tương lai. Có thể thực hiện nội soi trước để xác định bệnh loét dạ dày - tá tràng và chỉ điều trị H. pylori ở bệnh nhân có loét dạ dày - tá tràng.
