Viêm gan C Công cụ chẩn đoán

Cập nhật: 06 January 2026

Xét nghiệm và hỗ trợ chẩn đoán

Xét nghiệm huyết thanh học

Hepatitis C_Diagnostics 1Hepatitis C_Diagnostics 1


Kháng thể kháng virus viêm gan C (anti-HCV) là xét nghiệm chẩn đoán hàng đầu và được xác định bằng xét nghiệm miễn dịch enzyme trong huyết tương hoặc huyết thanh. RNA HCV (hoặc kháng nguyên lõi HCV) nên được định lượng để xác định tình trạng nhiễm virus máu hoặc nhiễm virus viêm gan C hiện tại ở người bệnh phát hiện có kháng thể anti-HCV. Sàng lọc kháng thể virus viêm gan C với xét nghiệm RNA HCV phản xạ là phương pháp xét nghiệm ban đầu được khuyến cáo để xác định sự hiện diện của nhiễm vius đang hoạt động. Viêm gan C cấp tính có thể được chẩn đoán đáng tin cậy nếu có ghi nhận chuyển đổi huyết thanh gần đây với kháng thể anti-HCV (tức là xét nghiệm kháng thể virus viêm gan C trước đó âm tính trở thành dương tính); tuy nhiên, xét nghiệm kháng thể thường không dương tính cho đến 3 tháng sau khi nhiễm. Nếu nghi ngờ cao trên lâm sàng, người bệnh nên được xét nghiệm RNA HCV (hoặc kháng nguyên lõi HCV) để xác nhận chẩn đoán. Xét nghiệm lại kháng thể virus viêm gan C ít nhất 6 tháng sau khi xét nghiệm kháng thể virus viêm gan C ban đầu âm tính sau khi phơi nhiễm có thể là một lựa chọn thay thế cho xét nghiệm RNA HCV.

Viêm gan C mạn tính là tình trạng nhiễm virus viêm gan C kéo dài ≥6 tháng sau khi mắc bệnh và được chẩn đoán dựa trên sự hiện diện đồng thời của cả kháng thể kháng HCV và RNA HCV (hoặc kháng nguyên lõi HCV). Khuyến cáo xét nghiệm định lượng HCV HCV để xác định tải lượng virus ban đầu trước khi bắt đầu điều trị kháng virus. Xét nghiệm này được dùng để phát hiện nhiễm trùng và đánh giá đáp ứng điều trị. Kết thúc điều trị khi không phát hiện được RNA HCV trên xét nghiệm có độ nhạy cao (≤15 IU/mL) ở thời điểm 12 và 24 tuần sau khi điều trị. Đây là xét nghiệm được khuyến cáo để đánh giá tái phát virus viêm gan C. Kháng nguyên lõi HCV không phát hiện được có thể là một tiêu chí thay thế để kết thúc điều trị ở những bệnh nhân phát hiện được kháng nguyên lõi HCV trước khi điều trị.

Nếu có thể, cần xác định kiểu gen virus viêm gan C, bao gồm phân nhóm kiểu gen 1a/1b (nếu được sẽ kê đơn thuốc trong phác đồ không bao phủ đa kiểu gen), ở tất cả người nhiễm HCV trước khi điều trị để quyết định loại và thời gian điều trị cũng như khả năng đáp ứng. Kiểu gen chủ yếu ở châu Á gồm: Kiểu gen 1b và 2 tại Đông Á (Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc và Nhật Bản); kiểu gen 3 tại Nam Á (Ấn Độ và Pakistan) và kiểu gen 3 được coi là khó điều trị và liên quan với tiên lượng xấu; và các kiểu gen 1 và 6 tại Đông Nam Á (Việt Nam, Campuchia, Lào, Indonesia, Myanmar, Malaysia, Philippines và Thái Lan).

Sinh thiết gan là tiêu chuẩn vàng để phát hiện xơ hóa gan và/hoặc xơ gan và có thể cung cấp thông tin tiên lượng; mặc dù vậy, không bắt buộc phải sinh thiết để bắt đầu điều trị. Đây là thủ thuật xâm lấn và đi kèm với nguy cơ tăng tỷ lệ mắc bệnh và tử vong. Tùy thuộc dịch vụ y tế tại địa phương, các nhóm sau nên được xét nghiệm để phát hiện nhiễm virus viêm gan C mạn tính: Người đã từng sử dụng ma túy đường tĩnh mạch/đường mũi gần đây hoặc từ trước, hoặc nam có quan hệ tình dục đồng giới (MSM); và người có các tình trạng liên quan đến khả năng cao nhiễm virus viêm gan C (HIV dương tính, người hoạt động tình dục đang dùng dự phòng trước phơi nhiễm HIV, người bệnh máu khó đông đã nhận yếu tố đông máu trước năm 1987, tiền sử chạy thận nhân tạo, người đã nhận máu/chế phẩm máu hoặc ghép tạng trước tháng 7 năm 1992, trẻ sinh từ người mẹ nhiễm HCV, nhân viên y tế sau tai nạn kim đâm hoặc phơi nhiễm niêm mạc với máu dương tính với HCV, bạn tình hiện tại của người nhiễm HCV, và người bị giam giữ).

Các xét nghiệm sàng lọc để loại trừ các viêm gan do virus khác

Các xét nghiệm sàng lọc để loại trừ các viêm gan do virus khác gồm: Với viêm gan A, cân nhắc yêu cầu kháng thể IgM kháng virus viêm gan A (anti-HAV) và xét nghiệm khuếch đại acid nucleic (NAAT) đối với RNA HAV; với viêm gan B, yêu cầu kháng nguyên bề mặt virus viêm gan B (HBsAg) và kháng thể lõi virus viêm gan B (anti-HBc); với viêm gan D, yêu cầu kháng thể kháng virus viêm gan D (anti-HDV); và với viêm gan E, yêu cầu IgM anti-HEV.

Vui lòng xem các sơ đồ quản lý bệnh Viêm gan A và E Viêm gan B để biết thêm thông tin.

Các xét nghiệm khác được khuyến cáo ở bệnh nhân nghi ngờ viêm gan do virus

Hepatitis C_Diagnostics 2Hepatitis C_Diagnostics 2


Các xét nghiệm cận lâm sàng được khuyến cáo ở bệnh nhân nghi ngờ viêm gan do virus trong vòng 6 tháng trước khi bắt đầu điều trị gồm: Xét nghiệm chức năng gan (LFT), aspartate aminotransferase (AST) và alanine aminotransferase (ALT), albumin huyết thanh, bilirubin, phosphatase kiềm (ALP), thời gian prothrombin (PT), tỷ số chuẩn hóa quốc tế (INR), công thức máu toàn bộ (CBC) kèm tiểu cầu, và mức lọc cầu thận ước tính (eGFR). Các xét nghiệm không xâm lấn như chỉ số tỷ lệ aminotransferase/tiểu cầu (APRI) hoặc fibrosis-4 (FIB-4) phải được sử dụng để đánh giá mức độ xơ hóa gan khi nguồn lực hạn chế trước khi khởi trị virus viêm gan C.

Hình ảnh học

Tại Malaysia, đo độ đàn hồi thoáng qua (TE) là phương thức hình ảnh không xâm lấn được khuyến cáo để chẩn đoán xơ hóa và xơ gan ở bệnh nhân viêm gan C. Siêu âm gan giúp phát hiện ung thư biểu mô tế bào gan (HCC) và cổ trướng dưới lâm sàng.