Xét nghiệm và Hỗ trợ chẩn đoán
Sinh thiết gan (Sinh thiết lõi)
Hepatocellular Carcinoma_Diganostics
Sinh thiết gan được chỉ định cho những bệnh nhân có bệnh lý liên quan đến sự hình thành các nốt không ác tính (ví dụ: xơ gan tim, xơ gan bẩm sinh, xơ gan bẩm sinh hoặc xơ gan do rối loạn mạch máu như hội chứng Budd - Chiari, giãn mạch di truyền) mà có thể bị nhầm lẫn với ung thư biểu mô tế bào gan khi chẩn đoán hình ảnh. Đây là quy trình chẩn đoán tối ưu nếu có nghi ngờ tổn thương ác tính nhưng kết quả chụp cắt lớp vi tính hoặc cộng hưởng từ đa pha không đáp ứng đủ tiêu chuẩn hình ảnh để chẩn đoán ung thư biểu mô tế bào gan. Quy trình này có thể thực hiện trên bệnh nhân được xem là không có nguy cơ cao phát triển ung thư biểu mô tế bào gan; xem xét thực hiện ở bệnh nhân có tăng CA 19-9 hoặc kháng nguyên ung thư phôi (CEA) để loại trừ ung thư đường mật trong gan hoặc để xác định bệnh di căn; đặc biệt cân nhắc ở bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào gan giai đoạn tiến xa hơn và phù hợp để điều trị toàn thân. Nên thực hiện quy trình này trước khi tiến hành liệu pháp phá hủy bướu tại chỗ nếu có thể.
Dấu ấn sinh học huyết thanh
Ví dụ về các dấu ấn sinh học huyết thanh bao gồm des-gamma-carboxy prothrombin (DCP) hoặc protein cảm ứng bởi sự thiếu hoặc đối kháng vitamin K II (PIVKA-II) và AFP phản ứng với lens culinaris agglutinin (AFP-L3), là một đồng dạng của alpha fetoprotein.
Hepatocellular Carcinoma_DiganosticsSinh thiết gan được chỉ định cho những bệnh nhân có bệnh lý liên quan đến sự hình thành các nốt không ác tính (ví dụ: xơ gan tim, xơ gan bẩm sinh, xơ gan bẩm sinh hoặc xơ gan do rối loạn mạch máu như hội chứng Budd - Chiari, giãn mạch di truyền) mà có thể bị nhầm lẫn với ung thư biểu mô tế bào gan khi chẩn đoán hình ảnh. Đây là quy trình chẩn đoán tối ưu nếu có nghi ngờ tổn thương ác tính nhưng kết quả chụp cắt lớp vi tính hoặc cộng hưởng từ đa pha không đáp ứng đủ tiêu chuẩn hình ảnh để chẩn đoán ung thư biểu mô tế bào gan. Quy trình này có thể thực hiện trên bệnh nhân được xem là không có nguy cơ cao phát triển ung thư biểu mô tế bào gan; xem xét thực hiện ở bệnh nhân có tăng CA 19-9 hoặc kháng nguyên ung thư phôi (CEA) để loại trừ ung thư đường mật trong gan hoặc để xác định bệnh di căn; đặc biệt cân nhắc ở bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào gan giai đoạn tiến xa hơn và phù hợp để điều trị toàn thân. Nên thực hiện quy trình này trước khi tiến hành liệu pháp phá hủy bướu tại chỗ nếu có thể.
Dấu ấn sinh học huyết thanh
Ví dụ về các dấu ấn sinh học huyết thanh bao gồm des-gamma-carboxy prothrombin (DCP) hoặc protein cảm ứng bởi sự thiếu hoặc đối kháng vitamin K II (PIVKA-II) và AFP phản ứng với lens culinaris agglutinin (AFP-L3), là một đồng dạng của alpha fetoprotein.
Hình ảnh học
Phương pháp chẩn đoán
Chụp cắt lớp vi tính đa dãy (MDCT) 4 thì/Chụp cộng hưởng từ (MRI) động có chất cản quang
Chụp cắt lớp vi tính đa dãy (MDCT) 4 thì/Chụp cộng hưởng từ động có chất cản quang là thăm dò chẩn đoán chính của ung thư biểu mô tế bào gan, sử dụng thuốc cản quang ngoại bào. Đặc điểm hình ảnh chẩn đoán là sự hiện diện của tăng quang trên thì động mạch, thải thuốc trên thì tĩnh mạch không ngoại vi hoặc thì tĩnh mạch chậm, vỏ ngấm thuốc và phát triển đạt ngưỡng. Những phương pháp này được khuyến cáo ở bệnh nhân trên lâm sàng có nhiều nghi ngờ ung thư biểu mô tế bào gan (như khi xác định có nốt tổn thương trên siêu âm hoặc tăng nồng độ alpha fetoprotein huyết thanh) và có các yếu tố nguy cơ ung thư biểu mô tế bào gan đã biết. Đây là phương pháp có độ nhạy cao hơn siêu âm để phát hiện ung thư biểu mô tế bào gan nhưng giá thành đắt hơn. Đối với giai đoạn ngoài gan, chụp cắt lớp vi tính có tiêm thuốc cản quang hoặc chụp cộng hưởng từ bụng và chậu có tiêm thuốc cản quang được khuyến cáo trong chẩn đoán ban đầu, theo dõi bệnh và theo dõi đáp ứng điều trị.
Chụp cắt lớp vi tính đa dãy (MDCT) 4 thì/Chụp cộng hưởng từ (MRI) động có chất cản quang
Chụp cắt lớp vi tính đa dãy (MDCT) 4 thì/Chụp cộng hưởng từ động có chất cản quang là thăm dò chẩn đoán chính của ung thư biểu mô tế bào gan, sử dụng thuốc cản quang ngoại bào. Đặc điểm hình ảnh chẩn đoán là sự hiện diện của tăng quang trên thì động mạch, thải thuốc trên thì tĩnh mạch không ngoại vi hoặc thì tĩnh mạch chậm, vỏ ngấm thuốc và phát triển đạt ngưỡng. Những phương pháp này được khuyến cáo ở bệnh nhân trên lâm sàng có nhiều nghi ngờ ung thư biểu mô tế bào gan (như khi xác định có nốt tổn thương trên siêu âm hoặc tăng nồng độ alpha fetoprotein huyết thanh) và có các yếu tố nguy cơ ung thư biểu mô tế bào gan đã biết. Đây là phương pháp có độ nhạy cao hơn siêu âm để phát hiện ung thư biểu mô tế bào gan nhưng giá thành đắt hơn. Đối với giai đoạn ngoài gan, chụp cắt lớp vi tính có tiêm thuốc cản quang hoặc chụp cộng hưởng từ bụng và chậu có tiêm thuốc cản quang được khuyến cáo trong chẩn đoán ban đầu, theo dõi bệnh và theo dõi đáp ứng điều trị.
