Tổng quan
Ung thư biểu mô tế bào gan (HCC) là ung thư bắt nguồn từ gan, như được định nghĩa trong phần Giới thiệu.
Ung thư biểu mô tế bào gan là loại ung thư gan nguyên phát thường gặp nhất, chiếm 75-85% các trường hợp và là nguyên nhân gây tử vong liên quan đến ung thư thường gặp hàng thứ tư trên toàn thế giới. Chi tiết về tỷ lệ hiện mắc có thể được tìm thấy trong phần Dịch tễ học.
Khoảng 80% các trường hợp ung thư biểu mô tế bào gan do nhiễm virus viêm gan B (HBV) và/hoặc virus viêm gan C (HCV), đặc biệt ở những người bị xơ gan. Các yếu tố khác có thể làm tăng nguy cơ bị ung thư biểu mô tế bào gan được nêu trong phần Bệnh nguyên.
Phần Yếu tố nguy cơ cho rằng sự hiện diện của xơ gan và bệnh gan mạn tính, dù do bất kỳ nguyên nhân nào, là những yếu tố nguy cơ chính gây ung thư biểu mô tế bào gan.
Phần Phân loại nêu rõ các type ung thư biểu mô tế bào gan theo hình thái học.
Hepatocellular Carcinoma_Disease Summary
Ung thư biểu mô tế bào gan là loại ung thư gan nguyên phát thường gặp nhất, chiếm 75-85% các trường hợp và là nguyên nhân gây tử vong liên quan đến ung thư thường gặp hàng thứ tư trên toàn thế giới. Chi tiết về tỷ lệ hiện mắc có thể được tìm thấy trong phần Dịch tễ học.
Khoảng 80% các trường hợp ung thư biểu mô tế bào gan do nhiễm virus viêm gan B (HBV) và/hoặc virus viêm gan C (HCV), đặc biệt ở những người bị xơ gan. Các yếu tố khác có thể làm tăng nguy cơ bị ung thư biểu mô tế bào gan được nêu trong phần Bệnh nguyên.
Phần Yếu tố nguy cơ cho rằng sự hiện diện của xơ gan và bệnh gan mạn tính, dù do bất kỳ nguyên nhân nào, là những yếu tố nguy cơ chính gây ung thư biểu mô tế bào gan.
Phần Phân loại nêu rõ các type ung thư biểu mô tế bào gan theo hình thái học.
Hepatocellular Carcinoma_Disease SummaryBệnh sử và Khám thực thể
Phần Biểu hiện lâm sàng mô tả những đặc điểm lâm sàng gợi ý ung thư biểu mô tế bào gan giai đoạn khu trú và giai đoạn tiến xa hơn.
Chẩn đoán
Phần Chẩn đoán hoặc Tiêu chuẩn chẩn đoán nêu các tiêu chuẩn trong hướng dẫn phiên bản 2018 của Hiệp hội nghiên cứu về Bệnh gan của Hoa Kỳ (AASLD) theo Hệ thống dữ liệu và đọc kết quả chẩn đoán hình ảnh gan (LI-RADS).
Phần Tầm soát liệt kê các phương pháp như xét nghiệm alpha fetoprotein huyết thanh, siêu âm, chụp cắt lớp vi tính (CT) và chụp cộng hưởng từ (MRI) để tầm soát những bệnh nhân có nguy cơ mắc ung thư biểu mô tế bào gan.
Sinh thiết gan và các dấu ấn sinh học huyết thanh trong đánh giá ung thư biểu mô tế bào gan được thảo luận tại phần Xét nghiệm và Hỗ trợ chẩn đoán.
Phần Hình ảnh học thảo luận về chụp cắt lớp vi tính đa dãy (MDCT) 4 thì và chụp MRI động với chất cản quang, đây là những phương pháp chẩn đoán chủ yếu của ung thư biểu mô tế bào gan.
Những bệnh lý khác cần loại trừ khi chẩn đoán ung thư biểu mô tế bào gan được liệt kê trong phần Chẩn đoán phân biệt.
Phần Tầm soát liệt kê các phương pháp như xét nghiệm alpha fetoprotein huyết thanh, siêu âm, chụp cắt lớp vi tính (CT) và chụp cộng hưởng từ (MRI) để tầm soát những bệnh nhân có nguy cơ mắc ung thư biểu mô tế bào gan.
Sinh thiết gan và các dấu ấn sinh học huyết thanh trong đánh giá ung thư biểu mô tế bào gan được thảo luận tại phần Xét nghiệm và Hỗ trợ chẩn đoán.
Phần Hình ảnh học thảo luận về chụp cắt lớp vi tính đa dãy (MDCT) 4 thì và chụp MRI động với chất cản quang, đây là những phương pháp chẩn đoán chủ yếu của ung thư biểu mô tế bào gan.
Những bệnh lý khác cần loại trừ khi chẩn đoán ung thư biểu mô tế bào gan được liệt kê trong phần Chẩn đoán phân biệt.
Điều trị
Khi có chẩn đoán xác định ung thư biểu mô tế bào gan, cần đánh giá gánh nặng bướu, chức năng và dự trữ của gan, tình trạng sức khỏe tổng quát và các bệnh đi kèm của bệnh nhân. Các phương pháp chẩn đoán hình ảnh và thăm dò trước phẫu thuật, thang điểm Child-Pugh, các tiêu chí khác (như tiêu chuẩn UNOS của Mạng lưới chia sẻ tạng [United Network for Organ Sharing], tiêu chuẩn xếp giai đoạn theo Milan) và đánh giá trước khi dùng liệu pháp can thiệp trực tiếp đường động mạch được thảo luận trong phần Đánh giá. Phần này cũng giải thích về hệ thống xếp giai đoạn ung thư biểu mô tế bào gan.
Các nguyên tắc điều trị chung đối với phẫu thuật, điều trị tại chỗ tại vùng và điều trị toàn thân bệnh ung thư biểu mô tế bào gan được nêu ở phần Nguyên tắc điều trị.
Phần Điều trị bằng thuốc thảo luận chi tiết về các lựa chọn điều trị như dùng thuốc ức chế protein kinase, liệu pháp miễn dịch hoặc thuốc điều hòa miễn dịch, thuốc kháng virus và các thuốc đang được nghiên cứu trong điều trị ung thư biểu mô tế bào gan.
Phần Điều trị không dùng thuốc thảo luận về các liệu pháp phá hủy bướu tại chỗ trong điều trị ung thư biểu mô tế bào gan như phá hủy bướu bằng vi sóng (MWA), tiêm cồn qua da (PEI), đốt bướu bằng sóng cao tần (RFA), kỹ thuật xung điện không hồi phục (IRE) và liệu pháp can thiệp trực tiếp đường động mạch bao gồm truyền hóa chất động mạch gan (HAIC), nút động mạch (TAE) và nút hóa chất động mạch (TACE).
Cắt gan và ghép gan là phương pháp điều trị triệt để cho bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào gan, được nêu trong phần Phẫu thuật.
Phần Xạ trị đề cập các lựa chọn xạ trị trong ung thư biểu mô tế bào gan như xạ trị lập thể định vị thân (SBRT) và xạ trị trong chọn lọc (SIRT).
Phần Theo dõi thảo luận các phương pháp theo dõi sau điều trị ung thư biểu mô tế bào gan.
Các nguyên tắc điều trị chung đối với phẫu thuật, điều trị tại chỗ tại vùng và điều trị toàn thân bệnh ung thư biểu mô tế bào gan được nêu ở phần Nguyên tắc điều trị.
Phần Điều trị bằng thuốc thảo luận chi tiết về các lựa chọn điều trị như dùng thuốc ức chế protein kinase, liệu pháp miễn dịch hoặc thuốc điều hòa miễn dịch, thuốc kháng virus và các thuốc đang được nghiên cứu trong điều trị ung thư biểu mô tế bào gan.
Phần Điều trị không dùng thuốc thảo luận về các liệu pháp phá hủy bướu tại chỗ trong điều trị ung thư biểu mô tế bào gan như phá hủy bướu bằng vi sóng (MWA), tiêm cồn qua da (PEI), đốt bướu bằng sóng cao tần (RFA), kỹ thuật xung điện không hồi phục (IRE) và liệu pháp can thiệp trực tiếp đường động mạch bao gồm truyền hóa chất động mạch gan (HAIC), nút động mạch (TAE) và nút hóa chất động mạch (TACE).
Cắt gan và ghép gan là phương pháp điều trị triệt để cho bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào gan, được nêu trong phần Phẫu thuật.
Phần Xạ trị đề cập các lựa chọn xạ trị trong ung thư biểu mô tế bào gan như xạ trị lập thể định vị thân (SBRT) và xạ trị trong chọn lọc (SIRT).
Phần Theo dõi thảo luận các phương pháp theo dõi sau điều trị ung thư biểu mô tế bào gan.
