Biểu hiện lâm sàng
Dấu hiệu và triệu chứng
Ung thư biểu mô tế bào gan khu trú thường không có triệu chứng trong phần lớn quá trình tiến triển tự nhiên của bệnh. Các triệu chứng không đặc hiệu ở giai đoạn tiến xa hơn bao gồm: vàng da, chán ăn, sụt cân, mệt mỏi và đau bụng trên. Các dấu hiệu thực thể là gan to và báng bụng.
Ung thư biểu mô tế bào gan khu trú thường không có triệu chứng trong phần lớn quá trình tiến triển tự nhiên của bệnh. Các triệu chứng không đặc hiệu ở giai đoạn tiến xa hơn bao gồm: vàng da, chán ăn, sụt cân, mệt mỏi và đau bụng trên. Các dấu hiệu thực thể là gan to và báng bụng.
Chẩn đoán và Tiêu chuẩn chẩn đoán
Tiêu chuẩn chẩn đoán
Xác nhận chẩn đoán ung thư biểu mô tế bào gan khi thỏa mãn các tiêu chuẩn trong hướng dẫn phiên bản 2018 của Hiệp hội nghiên cứu về Bệnh gan của Hoa Kỳ (AASLD) theo Hệ thống dữ liệu và đọc kết quả chẩn đoán hình ảnh gan (LI-RADS).
Tiêu chí xác nhận chẩn đoán ung thư biểu mô tế bào gan theo LI-RADS 5, bao gồm:
Xác nhận chẩn đoán ung thư biểu mô tế bào gan khi thỏa mãn các tiêu chuẩn trong hướng dẫn phiên bản 2018 của Hiệp hội nghiên cứu về Bệnh gan của Hoa Kỳ (AASLD) theo Hệ thống dữ liệu và đọc kết quả chẩn đoán hình ảnh gan (LI-RADS).
Tiêu chí xác nhận chẩn đoán ung thư biểu mô tế bào gan theo LI-RADS 5, bao gồm:
- Tổn thương ≥20 mm: Tăng quang trên thì động mạch (APHE) và có ≥1 trong các tiêu chí:
- Thải thuốc không phải ngoại vi
- Có vỏ ngấm thuốc
- Phát triển đạt ngưỡng (tăng kích thước tổn thương ≥50% trong thời gian ≤6 tháng)
- Các tổn thương 10-19 mm: APHE và thải thuốc không phải ngoại vi, có vỏ ngấm thuốc và phát triển đạt ngưỡng, hoặc APHE và thải thuốc hoặc APHE và phát triển đạt ngưỡng
- Tổn thương phải là các nốt có đường kính >1 cm với kết quả hình ảnh điển hình của ung thư biểu mô tế bào gan (tăng quang trên thì động mạch kèm giảm quang trên thì tĩnh mạch cửa hoặc thì chậm) trên chụp cắt lớp vi tính đa dãy (MDCT) 4 thì (thì trước tiêm, thì động mạch, thì tĩnh mạch cửa và thì chậm), hoặc chụp cộng hưởng từ (MRI) động có chất cản quang 4 thì ở gan bị xơ.
Tầm soát
Phương pháp tầm soát
Siêu âm và xét nghiệm alpha fetoprotein (AFP) được sử dụng để sàng lọc bệnh nhân có nguy cơ cao mắc ung thư biểu mô tế bào gan. Bệnh nhân có AFP dương tính hoặc có nốt ≥10 mm quan sát được trên siêu âm nên được thực hiện thêm các xét nghiệm hoặc chẩn đoán hình ảnh để xác nhận chẩn đoán ung thư biểu mô tế bào gan.
Alpha fetoprotein huyết thanh (AFP)
Hepatocellular Carcinoma_Initial Assesment
AFP là chỉ dấu ung thư biểu mô tế bào gan thường được sử dụng và là phương pháp tầm soát được dùng rộng rãi. Giá trị ngưỡng 100 ng/mL của AFP có liên quan đến độ đặc hiệu cao nhưng độ nhạy thấp. Nồng độ bình thường tăng đến 35% ở bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào gan nhỏ và có thể tăng không đặc hiệu ở bệnh nhân viêm gan hoạt động hoặc tái tạo tế bào gan hoạt động. Các nghiên cứu gần đây cho thấy xét nghiệm nồng độ AFP không đủ độ nhạy và độ đặc hiệu để theo dõi và chẩn đoán hiệu quả, do đó phương pháp tầm soát này là không bắt buộc.
Siêu âm
Là phương pháp được lựa chọn để theo dõi. Siêu âm dùng để tầm soát và không dùng để xác định chẩn đoán. Có độ nhạy 94% trong phát hiện tổn thương và độ đặc hiệu >90%. Khoảng tầm soát khuyến cáo là 6 tháng ở bệnh nhân có nguy cơ và có kết quả siêu âm âm tính. Khuyến cáo lặp lại siêu âm và kiểm tra AFP trong vòng 3-6 tháng đối với bệnh nhân có các nốt <10 mm lúc siêu âm.
Chụp cắt lớp vi tính (CT)/cộng hưởng từ (MRI)
Chụp cắt lớp vi tính/cộng hưởng từ là các phương pháp chẩn đoán hình ảnh thay thế khi siêu âm cho kết quả không rõ hoặc không thể phát hiện các nốt ở gan.
Siêu âm và xét nghiệm alpha fetoprotein (AFP) được sử dụng để sàng lọc bệnh nhân có nguy cơ cao mắc ung thư biểu mô tế bào gan. Bệnh nhân có AFP dương tính hoặc có nốt ≥10 mm quan sát được trên siêu âm nên được thực hiện thêm các xét nghiệm hoặc chẩn đoán hình ảnh để xác nhận chẩn đoán ung thư biểu mô tế bào gan.
Alpha fetoprotein huyết thanh (AFP)
Hepatocellular Carcinoma_Initial AssesmentAFP là chỉ dấu ung thư biểu mô tế bào gan thường được sử dụng và là phương pháp tầm soát được dùng rộng rãi. Giá trị ngưỡng 100 ng/mL của AFP có liên quan đến độ đặc hiệu cao nhưng độ nhạy thấp. Nồng độ bình thường tăng đến 35% ở bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào gan nhỏ và có thể tăng không đặc hiệu ở bệnh nhân viêm gan hoạt động hoặc tái tạo tế bào gan hoạt động. Các nghiên cứu gần đây cho thấy xét nghiệm nồng độ AFP không đủ độ nhạy và độ đặc hiệu để theo dõi và chẩn đoán hiệu quả, do đó phương pháp tầm soát này là không bắt buộc.
Siêu âm
Là phương pháp được lựa chọn để theo dõi. Siêu âm dùng để tầm soát và không dùng để xác định chẩn đoán. Có độ nhạy 94% trong phát hiện tổn thương và độ đặc hiệu >90%. Khoảng tầm soát khuyến cáo là 6 tháng ở bệnh nhân có nguy cơ và có kết quả siêu âm âm tính. Khuyến cáo lặp lại siêu âm và kiểm tra AFP trong vòng 3-6 tháng đối với bệnh nhân có các nốt <10 mm lúc siêu âm.
Chụp cắt lớp vi tính (CT)/cộng hưởng từ (MRI)
Chụp cắt lớp vi tính/cộng hưởng từ là các phương pháp chẩn đoán hình ảnh thay thế khi siêu âm cho kết quả không rõ hoặc không thể phát hiện các nốt ở gan.
