Nhiễm virus Herpes simplex Công cụ chẩn đoán

Cập nhật: 05 January 2026

Xét nghiệm và hỗ trợ chẩn đoán

Xét nghiệm virus học

Nguồn bệnh phẩm để nuôi cấy virus bao gồm da, các tổn thương niêm mạc–da, máu, dịch não tủy, nước tiểu, phân, họng miệng hoặc kết mạc. Nuôi cấy virus dương tính sẽ cho thấy hiệu ứng gây hủy tế bào (CPE), đặc trưng cho sự nhân lên của virus herpes simplex. Nuôi cấy virus cho kết quả nhanh (trong vòng 7 ngày). Xét nghiệm này nhạy và cho phép phân biệt giữa virus herpes simplex týp 1 (HSV-1) và virus herpes simplex týp 2 (HSV-2). Đây cũng là phương pháp chẩn đoán ưu tiên để phân lập virus phục vụ thử nghiệm nhạy cảm với thuốc. Tuy nhiên, độ nhạy thấp khi lấy mẫu ở các tổn thương tái phát và đang lành, và kém nhạy hơn phản ứng chuỗi polymerase (PCR) trong phát hiện virus herpes simplex.

Ví dụ về các xét nghiệm phát hiện kháng nguyên bao gồm xét nghiệm miễn dịch peroxidase, miễn dịch huỳnh quang và miễn dịch enzyme. Các xét nghiệm này phát hiện kháng nguyên của virus herpes simplex, nhanh chóng nhưng không cho phép phân biệt giữa HSV-1 và HSV-2.

PCR cung cấp xác nhận virus học thông qua phát hiện DNA của virus herpes simplex. Đây là phương pháp nhạy nhất để xác nhận cả nhiễm virus herpes simplex nguyên phát và tái phát bằng bệnh phẩm lâm sàng từ các vị trí niêm mạc–da, bao gồm loét miệng và loét sinh dục. Đây cũng là xét nghiệm được lựa chọn cho nhiễm virus herpes simplex ở hệ thần kinh trung ương và nhiễm trùng hệ thống.

Xét nghiệm huyết thanh học đặc hiệu týp

Các xét nghiệm huyết thanh học đặc hiệu týp bao gồm phản ứng cố định bổ thể, xét nghiệm miễn dịch hấp thụ liên kết enzyme (ELISA), và Western blot. Các xét nghiệm này không phân biệt nhiễm ở vùng sinh dục–hậu môn với nhiễm vùng môi–miệng. Kháng thể IgG cho biết đã từng nhiễm trước đây trong khi kháng thể IgM gợi ý nhiễm gần đây. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng phát hiện kháng thể IgM thiếu nhạy, đặc biệt đối với các nhiễm trùng tái phát. Hơn nữa, các xét nghiệm huyết thanh học đặc hiệu týp có thể được sử dụng để chẩn đoán nhiễm virus herpes simplex khi không có tổn thương sinh dục. Chúng cũng có thể được dùng để sàng lọc nhiễm HSV-1 hoặc HSV-2 ở phụ nữ mang thai không triệu chứng nhằm giảm nguy cơ lây truyền cho trẻ sơ sinh do hiện tượng thải virus tại thời điểm sinh.

Phết Tzanck

Chế phẩm Tzanck (nhuộm Wright–Giemsa hoặc Papanicolaou) có thể cho thấy các tế bào khổng lồ đa nhân hoặc vùi trong nhân từ các mẫu cạo lấy ở đáy tổn thương vừa vỡ. Tuy nhiên, xét nghiệm này không thể phân biệt đáng tin cậy virus herpes simplex với virus varicella–zoster.