Nhiễm virus Herpes simplex Tổng quan về bệnh

Cập nhật: 05 January 2026

Giới thiệu

Virus herpes simplex týp 1 (HSV-1) và HSV týp 2 (HSV-2) là các nhiễm trùng thường gặp trên toàn cầu, là một vấn đề lớn của sức khỏe. Có sự đa dạng rộng trong phổ lâm sàng của bệnh do virus herpes simplex.

Dịch tễ

Trên toàn cầu, nhiễm HSV-1 ảnh hưởng khoảng 3,8 tỷ người dưới 50 tuổi và khoảng 520 triệu người trong nhóm 15-49 tuổi nhiễm HSV-2. Bệnh do virus herpes simplex quanh miệng thường xảy ra nhất ở trẻ <5 tuổi. Tại Hoa Kỳ, có 572.000 ca mới bị loét sinh dục hằng năm, với 11,9% người 14-49 tuổi nhiễm HSV-2. Tỷ lệ hiện mắc HSV-1 được ghi nhận cao nhất ở các quốc gia thu nhập thấp và trung bình. Hầu hết các khu vực của WHO có tỷ lệ huyết thanh dương tính với HSV-1 vượt 70% ở nhóm tuổi 40–49. Nhiễm HSV-1 xảy ra với tỷ lệ tương đương giữa hai giới và không có biến thiên theo mùa.

Trong một đánh giá có hệ thống thực hiện tại châu Á, tỷ lệ huyết thanh dương tính với HSV-1 được ghi nhận cao đến 50% ở trẻ em và 76,5% ở người lớn; nhóm tuổi nhiễm nhiều nhất là ≥20. Đối với HSV-2, tỷ lệ huyết thanh dương tính gộp trung bình ở châu Á là 12,1% trong dân số chung. Phản ánh đường lây truyền của bệnh, tỷ lệ huyết thanh dương tính với HSV-2 cao nhất ở nam quan hệ tình dục đồng giới, nữ lao động tình dục, bệnh nhân dương tính với virus suy giảm miễn dịch ở người (HIV) và người đến khám tại phòng khám nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục (STI).

Sinh bệnh học

Lây truyền qua tiếp xúc trực tiếp với vết loét, nước bọt hoặc vùng quanh miệng của người đang thải virus làm thúc đẩy sự lây truyền HSV-1; thời gian ủ bệnh dao động từ 2-12 ngày. Virus HSV-2 thường lây truyền trong quan hệ tình dục qua tiếp xúc trực tiếp bề mặt bộ phận sinh dục hoặc hậu môn, da, vết loét hoặc dịch tiết. Virus lây qua tiếp xúc gần với người đang thải virus.

Virus phải tiếp xúc với bề mặt niêm mạc hoặc da bị trợt hoặc xước hoặc tổn thương để khởi phát nhiễm trùng. Đầu tiên, virus nhân lên tại vị trí nhiễm nguyên phát, sau đó được vận chuyển ngược dòng đến hạch rễ lưng; tại đây virus thiết lập trạng thái tiềm ẩn. Khi đã tiềm ẩn, kích thích phù hợp có thể gây tái hoạt; virus xuất hiện tại các vị trí da-niêm mạc, kèm theo mụn nước hoặc loét.

Phân loại

Nhiễm virus herpes simplex nguyên phát

Nhiễm virus herpes simplex nguyên phát đề cập đến nhiễm lần đầu với HSV-1 hoặc HSV-2 ở người không có kháng thể với HSV-1 hoặc HSV-2.

Đợt đầu tiên – Nhiễm không nguyên phát

Đợt đầu tiên – nhiễm không nguyên phát là nhiễm HSV-1 hoặc HSV-2 ở người đã có sẵn kháng thể tương ứng chống lại HSV-1 hoặc HSV-2.

Nhiễm virus herpes simplex tái phát

Nhiễm virus herpes simplex tái phát là do tái hoạt virus tiềm ẩn. Điều này thường do các yếu tố khởi phát (ví dụ tia cực tím [UV], ức chế miễn dịch, chấn thương, stress, bệnh sốt). Tình trạng này ít nặng hơn và giảm dần tần suất theo thời gian.

Bệnh do virus herpes simplex quanh miệng

Hầu hết tổn thương quanh miệng do HSV-1 gây ra nhưng cũng có thể do HSV-2. HSV-1 cũng gây ra hầu hết các trường hợp nhiễm herpes ở mắt và ngón tay. Bệnh tái phát có xu hướng xảy ra thường xuyên hơn với nhiễm HSV-1 so với HSV-2.

Bệnh do virus herpes simplex sinh dục

HSV-2 thường là nguyên nhân của herpes sinh dục nhưng HSV-1 có thể gặp ở đến 1/3 số ca mới mắc. HSV-1 có xu hướng gây tái phát ít hơn và bệnh nhẹ hơn HSV-2. Bệnh do virus herpes simplex sinh dục thường gặp ở người lớn; thường lây truyền qua tiếp xúc tình dục. Thời gian ủ bệnh là 2 ngày đến 2 tuần sau phơi nhiễm; tổn thương nguyên phát xuất hiện sau 4 đến 7 ngày kể từ khi tiếp xúc.