Xét nghiệm và hỗ trợ chẩn đoán
Xét nghiệm
Hyperparathyroidism_Diagnostics 1
Canxi niệu 24 giờ
Không bắt buộc đo canxi niệu 24 giờ để chẩn đoán cường cận giáp nguyên phát, nhưng thường được thực hiện ở bệnh nhân cường cận giáp nguyên phát không triệu chứng để đánh giá nguy cơ biến chứng thận. Canxi niệu cao (>200-300 mg/ngày) gợi ý cường cận giáp nguyên phát và tăng nguy cơ biến chứng thận. Tăng canxi máu giảm canxi niệu có tính chất gia đình (FHH) hoặc cường cận giáp nguyên phát kèm thiếu vitamin D có thể xảy ra khi canxi niệu <200 mg/ngày. Khoảng 75% bệnh nhân FHH có bài tiết canxi niệu <100 mg/ngày.
Canxi huyết thanh toàn phần
Canxi huyết thanh toàn phần được dùng cho đo lúc đầu và theo dõi lặp lại. Tốt nhất thực hiện trên bệnh nhân nhịn ăn với thời gian garo tĩnh mạch tối thiểu. Kết quả có thể bình thường hoặc tăng trong cường cận giáp nguyên phát. Được đo cùng lúc với albumin huyết thanh vì nồng độ albumin có thể ảnh hưởng đến canxi huyết thanh toàn phần và được hiệu chỉnh để phản ánh bất kỳ sự bất thường nào của albumin.
Để tính canxi hiệu chỉnh:
Canxi hiệu chỉnh (mg/dL) = Canxi huyết thanh toàn phần đo được (mg/dL) + 0,8 x (4,0 - nồng độ albumin huyết thanh(bệnh nhân)[g/dL])
Canxi hiệu chỉnh (mg/dL) = Canxi đo được (mg/dL) - albumin đo được (g/dL) + 4
Canxi ion hóa huyết thanh
Canxi ion hóa huyết thanh được ưu tiên cho bệnh nhân cường cận giáp nguyên phát không triệu chứng, có albumin huyết thanh bình thường và không có rối loạn cân bằng acid-base. Xét nghiệm này không bị ảnh hưởng bởi nồng độ albumin. Đây là xét nghiệm bổ trợ cho chẩn đoán ở bệnh nhân được cho là cường cận giáp nguyên phát thể canxi máu bình thường, thường gặp trong đánh giá mật độ khoáng xương (BMD) thấp. Ở những bệnh nhân này, hormone tuyến cận giáp tăng cao trong khi không có tăng canxi máu, được chứng minh bởi các số đo canxi ion hóa đều bình thường.
Hormone tuyến cận giáp huyết thanh (SPH)
Hyperparathyroidism_Diagnostics 2
Hormone tuyến cận giáp huyết thanh được đo bằng xét nghiệm hormone tuyến cận giáp toàn phần (xét nghiệm hormone tuyến cận giáp thế hệ 2) hoặc xét nghiệm SPH 1-84 (thế hệ 3) và được đo đồng thời với canxi huyết thanh để chẩn đoán cường cận giáp. Ở bệnh nhân cường cận giáp nguyên phát, hormone tuyến cận giáp tăng ở 80-90% trường hợp hoặc ở ngưỡng trên của giới hạn bình thường. Nếu hormone tuyến cận giáp chỉ tăng nhẹ hoặc trong giới hạn bình thường, có thể thực hiện đo canxi niệu 24 giờ để phân biệt cường cận giáp nguyên phát với tăng canxi máu giảm canxi niệu có tính chất gia đình. Nếu hormone tuyến cận giáp dưới hoặc ở ngưỡng thấp của giới hạn bình thường, cần tìm nguyên nhân gây tăng canxi máu không do hormone tuyến cận giáp.
Phospho huyết thanh
Phospho huyết thanh có thể ở mức bình thường thấp hoặc giảm trong cường cận giáp nguyên phát. Một số bệnh nhân có thể có nhiễm toan chuyển hóa tăng clo nhẹ.
25-hydroxyvitamin D huyết thanh (25[OH]D)
25-hydroxyvitamin D huyết thanh (25[OH]D) có thể hữu ích để phân biệt cường cận giáp nguyên phát với các tình trạng khác. Không đủ (<20 ng/dL) hoặc thiếu hụt hoàn toàn (<10 ng/dL) chỉ ra bệnh hoạt động mạnh hơn. Có bằng chứng cho thấy nồng độ hormone tuyến cận giáp giảm có thể xảy ra khi điều chỉnh 25(OH)D không đủ. Tăng bài tiết canxi niệu khi bổ sung vitamin D được thấy ở cường cận giáp nguyên phát nhẹ kèm thiếu vitamin D, với hormone tuyến cận giáp và canxi huyết thanh tăng và canxi niệu 24 giờ bình thường hoặc thấp. 25[OH]D thấp cũng ghi nhận trong cường cận giáp thứ phát do thiếu vitamin D.
Creatinin huyết thanh
Creatinin huyết thanh được dùng để đánh giá chức năng thận cùng với tốc độ lọc cầu thận ước tính (eGFR). eGFR 60 mL/phút là ngưỡng của bệnh thận mạn để quyết định bệnh nhân cường cận giáp nguyên phát không triệu chứng nào sẽ được lợi từ can thiệp phẫu thuật sớm.
Chỉ dấu chuyển hóa xương
Các chỉ dấu chuyển hóa xương bao gồm liên kết chéo collagen, osteocalcin và phosphatase kiềm chuyên biệt xương. Ở bệnh nhân cường cận giáp nguyên phát không triệu chứng, giá trị này thường nằm ở ngưỡng trên giới hạn bình thường hoặc tăng nhẹ. Trường hợp nặng có chỉ dấu xương tăng cao.
Xét nghiệm di truyền
Xét nghiệm di truyền không bắt buộc nhưng có thể thực hiện ở bệnh nhân nghi ngờ là thể gia đình của cường cận giáp nguyên phát, bệnh nhân trẻ, người có tiền sử gia đình mắc cường cận giáp nguyên phát, tổn thương đa tuyến, và các dấu hiệu gợi ý hội chứng u nội tiết đa ổ type 1 (MEN1). Khoảng 10% bệnh nhân cường cận giáp nguyên phát có 1 trong 11 đột biến gen.
Hyperparathyroidism_Diagnostics 1Canxi niệu 24 giờ
Không bắt buộc đo canxi niệu 24 giờ để chẩn đoán cường cận giáp nguyên phát, nhưng thường được thực hiện ở bệnh nhân cường cận giáp nguyên phát không triệu chứng để đánh giá nguy cơ biến chứng thận. Canxi niệu cao (>200-300 mg/ngày) gợi ý cường cận giáp nguyên phát và tăng nguy cơ biến chứng thận. Tăng canxi máu giảm canxi niệu có tính chất gia đình (FHH) hoặc cường cận giáp nguyên phát kèm thiếu vitamin D có thể xảy ra khi canxi niệu <200 mg/ngày. Khoảng 75% bệnh nhân FHH có bài tiết canxi niệu <100 mg/ngày.
Canxi huyết thanh toàn phần
Canxi huyết thanh toàn phần được dùng cho đo lúc đầu và theo dõi lặp lại. Tốt nhất thực hiện trên bệnh nhân nhịn ăn với thời gian garo tĩnh mạch tối thiểu. Kết quả có thể bình thường hoặc tăng trong cường cận giáp nguyên phát. Được đo cùng lúc với albumin huyết thanh vì nồng độ albumin có thể ảnh hưởng đến canxi huyết thanh toàn phần và được hiệu chỉnh để phản ánh bất kỳ sự bất thường nào của albumin.
Để tính canxi hiệu chỉnh:
Canxi hiệu chỉnh (mg/dL) = Canxi huyết thanh toàn phần đo được (mg/dL) + 0,8 x (4,0 - nồng độ albumin huyết thanh(bệnh nhân)[g/dL])
Canxi hiệu chỉnh (mg/dL) = Canxi đo được (mg/dL) - albumin đo được (g/dL) + 4
Canxi ion hóa huyết thanh
Canxi ion hóa huyết thanh được ưu tiên cho bệnh nhân cường cận giáp nguyên phát không triệu chứng, có albumin huyết thanh bình thường và không có rối loạn cân bằng acid-base. Xét nghiệm này không bị ảnh hưởng bởi nồng độ albumin. Đây là xét nghiệm bổ trợ cho chẩn đoán ở bệnh nhân được cho là cường cận giáp nguyên phát thể canxi máu bình thường, thường gặp trong đánh giá mật độ khoáng xương (BMD) thấp. Ở những bệnh nhân này, hormone tuyến cận giáp tăng cao trong khi không có tăng canxi máu, được chứng minh bởi các số đo canxi ion hóa đều bình thường.
Hormone tuyến cận giáp huyết thanh (SPH)
Hyperparathyroidism_Diagnostics 2Hormone tuyến cận giáp huyết thanh được đo bằng xét nghiệm hormone tuyến cận giáp toàn phần (xét nghiệm hormone tuyến cận giáp thế hệ 2) hoặc xét nghiệm SPH 1-84 (thế hệ 3) và được đo đồng thời với canxi huyết thanh để chẩn đoán cường cận giáp. Ở bệnh nhân cường cận giáp nguyên phát, hormone tuyến cận giáp tăng ở 80-90% trường hợp hoặc ở ngưỡng trên của giới hạn bình thường. Nếu hormone tuyến cận giáp chỉ tăng nhẹ hoặc trong giới hạn bình thường, có thể thực hiện đo canxi niệu 24 giờ để phân biệt cường cận giáp nguyên phát với tăng canxi máu giảm canxi niệu có tính chất gia đình. Nếu hormone tuyến cận giáp dưới hoặc ở ngưỡng thấp của giới hạn bình thường, cần tìm nguyên nhân gây tăng canxi máu không do hormone tuyến cận giáp.
Phospho huyết thanh
Phospho huyết thanh có thể ở mức bình thường thấp hoặc giảm trong cường cận giáp nguyên phát. Một số bệnh nhân có thể có nhiễm toan chuyển hóa tăng clo nhẹ.
25-hydroxyvitamin D huyết thanh (25[OH]D)
25-hydroxyvitamin D huyết thanh (25[OH]D) có thể hữu ích để phân biệt cường cận giáp nguyên phát với các tình trạng khác. Không đủ (<20 ng/dL) hoặc thiếu hụt hoàn toàn (<10 ng/dL) chỉ ra bệnh hoạt động mạnh hơn. Có bằng chứng cho thấy nồng độ hormone tuyến cận giáp giảm có thể xảy ra khi điều chỉnh 25(OH)D không đủ. Tăng bài tiết canxi niệu khi bổ sung vitamin D được thấy ở cường cận giáp nguyên phát nhẹ kèm thiếu vitamin D, với hormone tuyến cận giáp và canxi huyết thanh tăng và canxi niệu 24 giờ bình thường hoặc thấp. 25[OH]D thấp cũng ghi nhận trong cường cận giáp thứ phát do thiếu vitamin D.
Creatinin huyết thanh
Creatinin huyết thanh được dùng để đánh giá chức năng thận cùng với tốc độ lọc cầu thận ước tính (eGFR). eGFR 60 mL/phút là ngưỡng của bệnh thận mạn để quyết định bệnh nhân cường cận giáp nguyên phát không triệu chứng nào sẽ được lợi từ can thiệp phẫu thuật sớm.
Chỉ dấu chuyển hóa xương
Các chỉ dấu chuyển hóa xương bao gồm liên kết chéo collagen, osteocalcin và phosphatase kiềm chuyên biệt xương. Ở bệnh nhân cường cận giáp nguyên phát không triệu chứng, giá trị này thường nằm ở ngưỡng trên giới hạn bình thường hoặc tăng nhẹ. Trường hợp nặng có chỉ dấu xương tăng cao.
Xét nghiệm di truyền
Xét nghiệm di truyền không bắt buộc nhưng có thể thực hiện ở bệnh nhân nghi ngờ là thể gia đình của cường cận giáp nguyên phát, bệnh nhân trẻ, người có tiền sử gia đình mắc cường cận giáp nguyên phát, tổn thương đa tuyến, và các dấu hiệu gợi ý hội chứng u nội tiết đa ổ type 1 (MEN1). Khoảng 10% bệnh nhân cường cận giáp nguyên phát có 1 trong 11 đột biến gen.
Hình ảnh học
Chẩn đoán hình ảnh tuyến cận giáp chủ yếu dùng để định vị u/u biểu mô tuyến và xác định bệnh nhân có chỉ định phẫu thuật, có bệnh dai dẳng hoặc tái phát, hoặc đã thăm dò vùng cổ trước đó cần phẫu thuật lại.
Chụp X-quang đơn thuần
Chụp X-quang đơn thuần có thể dùng để đánh giá gãy xương, vôi hóa nhu mô thận hoặc sỏi thận.
Siêu âm
Siêu âm được khuyến cáo là phương pháp chẩn đoán hình ảnh ban đầu cho cường cận giáp nguyên phát. Đây là phương pháp thường được dùng nhất để đánh giá sự hiện diện của vôi hóa nhu mô thận hoặc sỏi thận, chứng minh có tổn thương cơ quan đích trong cường cận giáp và được dùng làm tiêu chí chỉ định phẫu thuật. Thông tin quan trọng cho chẩn đoán có thể được phát hiện khi đối chiếu với kết quả xạ hình.
Hyperparathyroidism_Diagnostics 3
Siêu âm vùng cổ cung cấp thông tin giải phẫu chi tiết, không dùng để xác định tổn thương. U tuyến cận giáp xuất hiện như khối đồng nhất, bờ rõ, giảm âm so với mô tuyến giáp tăng âm. Các u biểu mô tuyến cận giáp dưới phì đại thường nằm kề cực dưới thùy giáp, dây chằng giáp-tuyến ức hoặc phần cổ trên tuyến ức. U biểu mô tuyến cận giáp trên phì đại thường nằm cạnh thùy sau tuyến giáp, có xu hướng di chuyển ra sau và xuống dưới.
Chụp cắt lớp phát xạ đơn photon kết hợp cắt lớp vi tính (SPECT/CT)
Chụp SPECT/CT là phương pháp hàng thứ hai trong xác định tuyến lạc chỗ. Phương pháp này có giá trị nhất trong phát hiện u biểu mô tuyến lạc chỗ (ngoại trừ các trường hợp nằm ở vùng cổ thấp ngang vai và các tổn thương gần hoặc trong tuyến giáp hoặc các tuyến tăng chức năng) vốn không được phát hiện trong phẫu thuật lần đầu. Kỹ thuật này hiệu quả hơn trong phát hiện u biểu mô tuyến nằm sau khí quản, sau thực quản và trung thất. Chế độ quan sát trung thất dùng để xác định tuyến lạc chỗ trong lồng ngực. Hình chiếu vùng hàm có thể dùng để xác định tuyến lạc chỗ chưa di chuyển xuống.
Chụp cộng hưởng từ (MRI)
MRI cung cấp hình ảnh giải phẫu mà không cần thuốc cản quang hoặc bức xạ. Được chỉ định cho phụ nữ mang thai khi siêu âm không cung cấp được thông tin và để xác định mô tuyến cận giáp lạc chỗ.
Chụp cắt lớp vi tính 4 chiều (4D-CT)
Chụp cắt lớp vi tính 4 chiều là phương pháp hiệu quả cao trong xác định tuyến cận giáp bị bỏ sót và định vị u biểu mô tuyến nhỏ cũng như bệnh đa tuyến. Phương pháp này cung cấp thông tin giải phẫu và chức năng (tưới máu). Cần có các lát cắt trục từ hàm đến cung động mạch chủ và đánh giá tưới máu. Kỹ thuật này giúp phân biệt đặc điểm tưới máu, đánh giá tuyến cận giáp tăng chức năng, đồng thời quan sát tình trạng tuyến cận giáp và các cấu trúc cổ khác. Khi phối hợp với siêu âm, 4D-CT có độ nhạy 94% và độ đặc hiệu 90% trong xác định bên của tuyến cận giáp tăng chức năng và độ nhạy 82% trong việc khu trú chính xác đến phần tư tương ứng của vùng cổ.
Chụp cắt lớp vi tính phát xạ positron tuyến cận giáp (PET)
Chụp PET tuyến cận giáp có thể phân biệt u biểu mô tuyến và tăng sản trước phẫu thuật dựa trên giá trị hấp thụ chuẩn tối đa. Các chất đánh dấu được sử dụng gồm 18F-fluorodeoxyglucose, thường được dùng để xác định u biểu mô tuyến yên, và 11C-methionine, dùng trong trường hợp khó xác định vị trí tuyến cận giáp với xạ hình thông thường.
Xạ hình tuyến cận giáp sử dụng hai đồng vị
Xạ hình tuyến cận giáp hai đồng vị, còn được gọi là kỹ thuật quét trừ. Các chất đánh dấu tuyến cận giáp không đặc hiệu và có thể bị tuyến giáp hấp thu. Do đó việc so sánh với một chất đánh dấu thứ hai là cần thiết. Phương pháp này được dùng để phát hiện bệnh tái phát và dai dẳng trong cường cận giáp nguyên phát và thứ phát, để lựa chọn phương pháp phẫu thuật phù hợp cho bệnh nhân cường cận giáp nguyên phát và để đánh giá sau mổ. Các chất đánh dấu định vị tuyến cận giáp gồm 99mTc-sestamibi, dùng kỹ thuật trừ kết hợp với 123I; tuy nhiên, liệu pháp vitamin D có thể giảm khả năng thu nhận chất đánh dấu; và 99mTc-tetrofosmin được sử dụng thay thế cho 99mTc-sestamibi trong xạ hình quét trừ tuyến cận giáp.
Đánh giá mật độ khoáng xương (BMD)
Hyperparathyroidism_Diagnostics 4
Các phương pháp bao gồm đo hấp thụ năng lượng kép tia X (DXA), X-quang cột sống, đánh giá gãy xương đốt sống (VFA) bằng DXA, điểm xương xốp (TBS) bằng DXA hoặc chụp cắt lớp vi tính định lượng ngoại biên độ phân giải cao (HRpQCT). Bệnh nhân cường cận giáp có thể có giảm mật độ khoáng xương, thường gặp hơn ở vị trí vỏ xương (ví dụ cẳng tay và hông) so với vị trí xương xốp (ví dụ cột sống). Việc xác định giảm mật độ xương ở bệnh nhân cường cận giáp nguyên phát là không bắt buộc để chẩn đoán nhưng là phần thiết yếu của quản lý bệnh. Mức độ mất xương phản ánh độ nặng của cường cận giáp và có giá trị trong việc đưa ra khuyến cáo điều trị (ví dụ phẫu thuật tuyến cận giáp hoặc theo dõi kèm quan sát ở bệnh nhân không triệu chứng). Điều này hỗ trợ khẳng định sự tham gia của xương xốp trong cường cận giáp nguyên phát không triệu chứng.
Các phương pháp xâm lấn
Lấy mẫu tĩnh mạch chọn lọc (SVS)
Lấy mẫu tĩnh mạch chọn lọc (SVS) là thủ thuật định vị nhạy nhất nhưng phụ thuộc nhiều vào người thực hiện. Đặt catheter vào tĩnh mạch đùi chung hoặc tĩnh mạch chậu để đo giá trị ban đầu của hormone tuyến cận giáp và đặt vào tĩnh mạch cảnh trong hoặc nhiều tĩnh mạch khác (cổ và trung thất) để xác định bên tổn thương. Hình ảnh tĩnh mạch đồ nên được thực hiện ở hai mặt phẳng để xác định chính xác vị trí giải phẫu của các mạch được lấy mẫu. Nồng độ hormone tuyến cận giáp tăng gấp đôi so với ban đầu cho thấy kết quả dương tính. Thủ thuật này bị hạn chế bởi chi phí và nguy cơ phản ứng bất lợi (ví dụ: suy thận và phản vệ với thuốc cản quang) và biến chứng thủ thuật (ví dụ: chảy máu, nhiễm trùng, giả phình mạch, thông động tĩnh mạch).
Chọc hút tế bào bằng kim nhỏ dưới hướng dẫn siêu âm (FNA)/sinh thiết
Hyperparathyroidism_Diagnostics 5
Xác nhận tế bào học và xét nghiệm sinh hóa hormone tuyến cận giáp nên được thực hiện trên mẫu. Chọc hút tế bào bằng kim nhỏ dưới hướng dẫn siêu âm (FNA) để xác nhận sự hiện diện của hormone tuyến cận giáp và phân biệt với các cấu trúc khác. Kết quả chọc hút kim nhỏ tuyến cận giáp dương tính là chỉ định để tiến hành phẫu thuật thăm dò. Phương pháp này hữu ích trong chẩn đoán phân biệt u tuyến cận giáp nằm trong nhu mô giáp và nhân giáp. Không nên chọc hút FNA tuyến cận giáp trước phẫu thuật vì theo lý thuyết có nguy cơ gieo rắc tế bào tuyến cận giáp.
Chụp X-quang đơn thuần
Chụp X-quang đơn thuần có thể dùng để đánh giá gãy xương, vôi hóa nhu mô thận hoặc sỏi thận.
Siêu âm
Siêu âm được khuyến cáo là phương pháp chẩn đoán hình ảnh ban đầu cho cường cận giáp nguyên phát. Đây là phương pháp thường được dùng nhất để đánh giá sự hiện diện của vôi hóa nhu mô thận hoặc sỏi thận, chứng minh có tổn thương cơ quan đích trong cường cận giáp và được dùng làm tiêu chí chỉ định phẫu thuật. Thông tin quan trọng cho chẩn đoán có thể được phát hiện khi đối chiếu với kết quả xạ hình.
Hyperparathyroidism_Diagnostics 3Siêu âm vùng cổ cung cấp thông tin giải phẫu chi tiết, không dùng để xác định tổn thương. U tuyến cận giáp xuất hiện như khối đồng nhất, bờ rõ, giảm âm so với mô tuyến giáp tăng âm. Các u biểu mô tuyến cận giáp dưới phì đại thường nằm kề cực dưới thùy giáp, dây chằng giáp-tuyến ức hoặc phần cổ trên tuyến ức. U biểu mô tuyến cận giáp trên phì đại thường nằm cạnh thùy sau tuyến giáp, có xu hướng di chuyển ra sau và xuống dưới.
Chụp cắt lớp phát xạ đơn photon kết hợp cắt lớp vi tính (SPECT/CT)
Chụp SPECT/CT là phương pháp hàng thứ hai trong xác định tuyến lạc chỗ. Phương pháp này có giá trị nhất trong phát hiện u biểu mô tuyến lạc chỗ (ngoại trừ các trường hợp nằm ở vùng cổ thấp ngang vai và các tổn thương gần hoặc trong tuyến giáp hoặc các tuyến tăng chức năng) vốn không được phát hiện trong phẫu thuật lần đầu. Kỹ thuật này hiệu quả hơn trong phát hiện u biểu mô tuyến nằm sau khí quản, sau thực quản và trung thất. Chế độ quan sát trung thất dùng để xác định tuyến lạc chỗ trong lồng ngực. Hình chiếu vùng hàm có thể dùng để xác định tuyến lạc chỗ chưa di chuyển xuống.
Chụp cộng hưởng từ (MRI)
MRI cung cấp hình ảnh giải phẫu mà không cần thuốc cản quang hoặc bức xạ. Được chỉ định cho phụ nữ mang thai khi siêu âm không cung cấp được thông tin và để xác định mô tuyến cận giáp lạc chỗ.
Chụp cắt lớp vi tính 4 chiều (4D-CT)
Chụp cắt lớp vi tính 4 chiều là phương pháp hiệu quả cao trong xác định tuyến cận giáp bị bỏ sót và định vị u biểu mô tuyến nhỏ cũng như bệnh đa tuyến. Phương pháp này cung cấp thông tin giải phẫu và chức năng (tưới máu). Cần có các lát cắt trục từ hàm đến cung động mạch chủ và đánh giá tưới máu. Kỹ thuật này giúp phân biệt đặc điểm tưới máu, đánh giá tuyến cận giáp tăng chức năng, đồng thời quan sát tình trạng tuyến cận giáp và các cấu trúc cổ khác. Khi phối hợp với siêu âm, 4D-CT có độ nhạy 94% và độ đặc hiệu 90% trong xác định bên của tuyến cận giáp tăng chức năng và độ nhạy 82% trong việc khu trú chính xác đến phần tư tương ứng của vùng cổ.
Chụp cắt lớp vi tính phát xạ positron tuyến cận giáp (PET)
Chụp PET tuyến cận giáp có thể phân biệt u biểu mô tuyến và tăng sản trước phẫu thuật dựa trên giá trị hấp thụ chuẩn tối đa. Các chất đánh dấu được sử dụng gồm 18F-fluorodeoxyglucose, thường được dùng để xác định u biểu mô tuyến yên, và 11C-methionine, dùng trong trường hợp khó xác định vị trí tuyến cận giáp với xạ hình thông thường.
Xạ hình tuyến cận giáp sử dụng hai đồng vị
Xạ hình tuyến cận giáp hai đồng vị, còn được gọi là kỹ thuật quét trừ. Các chất đánh dấu tuyến cận giáp không đặc hiệu và có thể bị tuyến giáp hấp thu. Do đó việc so sánh với một chất đánh dấu thứ hai là cần thiết. Phương pháp này được dùng để phát hiện bệnh tái phát và dai dẳng trong cường cận giáp nguyên phát và thứ phát, để lựa chọn phương pháp phẫu thuật phù hợp cho bệnh nhân cường cận giáp nguyên phát và để đánh giá sau mổ. Các chất đánh dấu định vị tuyến cận giáp gồm 99mTc-sestamibi, dùng kỹ thuật trừ kết hợp với 123I; tuy nhiên, liệu pháp vitamin D có thể giảm khả năng thu nhận chất đánh dấu; và 99mTc-tetrofosmin được sử dụng thay thế cho 99mTc-sestamibi trong xạ hình quét trừ tuyến cận giáp.
Đánh giá mật độ khoáng xương (BMD)
Hyperparathyroidism_Diagnostics 4Các phương pháp bao gồm đo hấp thụ năng lượng kép tia X (DXA), X-quang cột sống, đánh giá gãy xương đốt sống (VFA) bằng DXA, điểm xương xốp (TBS) bằng DXA hoặc chụp cắt lớp vi tính định lượng ngoại biên độ phân giải cao (HRpQCT). Bệnh nhân cường cận giáp có thể có giảm mật độ khoáng xương, thường gặp hơn ở vị trí vỏ xương (ví dụ cẳng tay và hông) so với vị trí xương xốp (ví dụ cột sống). Việc xác định giảm mật độ xương ở bệnh nhân cường cận giáp nguyên phát là không bắt buộc để chẩn đoán nhưng là phần thiết yếu của quản lý bệnh. Mức độ mất xương phản ánh độ nặng của cường cận giáp và có giá trị trong việc đưa ra khuyến cáo điều trị (ví dụ phẫu thuật tuyến cận giáp hoặc theo dõi kèm quan sát ở bệnh nhân không triệu chứng). Điều này hỗ trợ khẳng định sự tham gia của xương xốp trong cường cận giáp nguyên phát không triệu chứng.
Các phương pháp xâm lấn
Lấy mẫu tĩnh mạch chọn lọc (SVS)
Lấy mẫu tĩnh mạch chọn lọc (SVS) là thủ thuật định vị nhạy nhất nhưng phụ thuộc nhiều vào người thực hiện. Đặt catheter vào tĩnh mạch đùi chung hoặc tĩnh mạch chậu để đo giá trị ban đầu của hormone tuyến cận giáp và đặt vào tĩnh mạch cảnh trong hoặc nhiều tĩnh mạch khác (cổ và trung thất) để xác định bên tổn thương. Hình ảnh tĩnh mạch đồ nên được thực hiện ở hai mặt phẳng để xác định chính xác vị trí giải phẫu của các mạch được lấy mẫu. Nồng độ hormone tuyến cận giáp tăng gấp đôi so với ban đầu cho thấy kết quả dương tính. Thủ thuật này bị hạn chế bởi chi phí và nguy cơ phản ứng bất lợi (ví dụ: suy thận và phản vệ với thuốc cản quang) và biến chứng thủ thuật (ví dụ: chảy máu, nhiễm trùng, giả phình mạch, thông động tĩnh mạch).
Chọc hút tế bào bằng kim nhỏ dưới hướng dẫn siêu âm (FNA)/sinh thiết
Hyperparathyroidism_Diagnostics 5Xác nhận tế bào học và xét nghiệm sinh hóa hormone tuyến cận giáp nên được thực hiện trên mẫu. Chọc hút tế bào bằng kim nhỏ dưới hướng dẫn siêu âm (FNA) để xác nhận sự hiện diện của hormone tuyến cận giáp và phân biệt với các cấu trúc khác. Kết quả chọc hút kim nhỏ tuyến cận giáp dương tính là chỉ định để tiến hành phẫu thuật thăm dò. Phương pháp này hữu ích trong chẩn đoán phân biệt u tuyến cận giáp nằm trong nhu mô giáp và nhân giáp. Không nên chọc hút FNA tuyến cận giáp trước phẫu thuật vì theo lý thuyết có nguy cơ gieo rắc tế bào tuyến cận giáp.
