Content:
Định nghĩa
Nội dung của trang này:
Định nghĩa
Dịch tễ học
Sinh bệnh học
Nguyên nhân
Phân loại
Nội dung của trang này:
Định nghĩa
Dịch tễ học
Sinh bệnh học
Nguyên nhân
Phân loại
Định nghĩa
Cường cận giáp là tình trạng tăng sản xuất quá mức hormone tuyến cận giáp, có thể do tăng tiết tự phát như trong cường cận giáp nguyên phát hoặc do đáp ứng với tình trạng hạ canxi máu như trong cường cận giáp thứ phát. Nồng độ hormone tuyến cận giáp tăng cao dẫn đến tăng nồng độ canxi trong máu (tăng canxi máu).
Dịch tễ học
Cường cận giáp nguyên phát là rối loạn nội tiết phổ biến, đứng hàng thứ ba sau đái tháo đường và các bệnh lý tuyến giáp. Bệnh gặp nhiều hơn ở người cao tuổi và ở các nhóm dân cư châu Á hoặc người Mỹ gốc Phi. Tỷ lệ hiện mắc cao hơn có thể do khuynh hướng dễ thiếu vitamin D và dẫn đến cường cận giáp thứ phát. Bệnh chủ yếu xuất hiện ở bệnh nhân trên 50 tuổi, với tỷ lệ cao hơn ở nữ giới. Các trường hợp có triệu chứng chiếm ưu thế ở khu vực lục địa Ấn Độ, Trung Đông và Đông Nam Á, trong khi ở Trung Quốc và Nhật Bản ghi nhận mẫu hình chuyển tiếp với đa số các trường hợp không có triệu chứng.
Sinh bệnh học
Hyperparathyroidism_Disease Background 1Cường cận giáp nguyên phát đặc trưng bởi tăng canxi máu và nồng độ hormone tuyến cận giáp huyết thanh tăng do sản xuất quá mức từ một hoặc nhiều tuyến cận giáp. Cơ chế xảy ra thông qua tăng tái hấp thu canxi ở ống thận, tăng huy động canxi và phosphate từ xương (hủy xương) và tăng tổng hợp 1,25-dihydroxyvitamin D [1,25(OH)2D] tại thận, làm tăng hấp thu canxi và phosphate ở ruột.
Nguyên nhân
Hầu hết các trường hợp cường cận giáp nguyên phát là do u tuyến cận giáp, trong khi cường cận giáp thứ phát và tam phát thường do các tình trạng gây hạ canxi máu (ví dụ bệnh thận), dẫn đến tăng tiết hormone tuyến cận giáp.
Phân loại
Cường cận giáp nguyên phát (PHPT)
Cường cận giáp nguyên phát đặc trưng bởi tăng sản xuất hormone tuyến cận giáp một cách tự chủ, thường do u tuyến cận giáp (>80%) hoặc tăng sản mô tuyến cận giáp; hiếm khi do ác tính. Một số bệnh nhân ghi nhận có tiếp xúc bức xạ và các bất thường di truyền hiếm liên quan đến cường cận giáp nguyên phát. Hai khiếm khuyết phân tử có thể thấy trong các trường hợp u tuyến cận giáp tự phát bao gồm: đảo gen cyclin D1 dẫn đến sự biểu hiện quá mức của cyclin D1 gây tăng sinh tế bào; và đột biến MEN1, chiếm khoảng 20-30% u tuyến cận giáp tự phát và phát hiện ở u tuyến cận giáp có tính chất gia đình.
Hyperparathyroidism_Disease Background 2
Các hội chứng di truyền liên quan đến u tuyến cận giáp có tính chất gia đình bao gồm:
Cường cận giáp thứ phát
Cường cận giáp thứ phát khởi phát do các tình trạng gây hạ canxi máu mạn tính, dẫn đến tăng hoạt động bù trừ của tuyến cận giáp và tăng sản xuất hormone tuyến cận giáp. Khi nồng độ hormone tuyến cận giáp tăng, canxi được huy động thông qua việc tăng hấp thu ở ruột và hủy xương, do đó đặc trưng bởi nồng độ hormone tuyến cận giáp tăng và canxi huyết thanh bình thường hoặc thấp. Thường gặp trong bệnh thận mạn, khi giảm bài tiết phosphate dẫn đến tăng phosphate máu, trực tiếp làm giảm canxi huyết thanh và kích thích tuyến cận giáp. Các nguyên nhân khác của hạ canxi máu gồm thiếu vitamin D và/hoặc canxi, hội chứng kém hấp thu, thuốc (ví dụ thiazide, lithium), rối loạn chuyển hóa (ví dụ tăng phosphate máu mạn tính), rối loạn bẩm sinh (ví dụ cường cận giáp sơ sinh thoáng qua), ức chế hủy xương thứ phát do sử dụng bisphosphonate, sau ghép thận và giả cường cận giáp do kháng hormone tuyến cận giáp. Điều trị phụ thuộc vào nguyên nhân.
Cường cận giáp tam phát
Cường cận giáp tam phát xảy ra sau cường cận giáp thứ phát kéo dài, như ở bệnh nhân bệnh thận giai đoạn cuối hoặc suy thận mạn. Xuất hiện tình trạng tăng canxi máu không đáp ứng với điều trị nội khoa ở những bệnh nhân cường cận giáp thứ phát.
Cường cận giáp nguyên phát đặc trưng bởi tăng sản xuất hormone tuyến cận giáp một cách tự chủ, thường do u tuyến cận giáp (>80%) hoặc tăng sản mô tuyến cận giáp; hiếm khi do ác tính. Một số bệnh nhân ghi nhận có tiếp xúc bức xạ và các bất thường di truyền hiếm liên quan đến cường cận giáp nguyên phát. Hai khiếm khuyết phân tử có thể thấy trong các trường hợp u tuyến cận giáp tự phát bao gồm: đảo gen cyclin D1 dẫn đến sự biểu hiện quá mức của cyclin D1 gây tăng sinh tế bào; và đột biến MEN1, chiếm khoảng 20-30% u tuyến cận giáp tự phát và phát hiện ở u tuyến cận giáp có tính chất gia đình.
Hyperparathyroidism_Disease Background 2Các hội chứng di truyền liên quan đến u tuyến cận giáp có tính chất gia đình bao gồm:
- MEN1 (hội chứng Werner) và MEN2 (hội chứng Sipple), do đột biến dòng mầm của gen MEN1 và RET.
- Tăng canxi máu giảm canxi niệu có tính gia đình, là rối loạn trội trên nhiễm sắc thể thường, hiếm gặp, do đột biến mất chức năng ở gen thụ thể cảm nhận canxi ở tuyến cận giáp dẫn đến giảm độ nhạy cảm với canxi ngoại bào.
- Cường cận giáp nguyên phát nặng ở trẻ sơ sinh, là rối loạn hiếm gặp, khởi phát ngay sau khi sinh do đột biến đồng hợp tử hoặc dị hợp tử của gen thụ thể cảm nhận canxi.
- Hội chứng cường cận giáp-u xương hàm, là rối loạn trội trên nhiễm sắc thể thường, đặc trưng bởi u xương hàm dạng xơ-bó và u tuyến cận giáp; bệnh thận đa nang, u mô thừa thận và u Wilms cũng có thể gặp ở những bệnh nhân này.
- Cường cận giáp đơn độc có tính gia đình, không có đặc điểm cụ thể nhưng được cho là biểu hiện tiềm ẩn của MEN1.
Cường cận giáp thứ phát
Cường cận giáp thứ phát khởi phát do các tình trạng gây hạ canxi máu mạn tính, dẫn đến tăng hoạt động bù trừ của tuyến cận giáp và tăng sản xuất hormone tuyến cận giáp. Khi nồng độ hormone tuyến cận giáp tăng, canxi được huy động thông qua việc tăng hấp thu ở ruột và hủy xương, do đó đặc trưng bởi nồng độ hormone tuyến cận giáp tăng và canxi huyết thanh bình thường hoặc thấp. Thường gặp trong bệnh thận mạn, khi giảm bài tiết phosphate dẫn đến tăng phosphate máu, trực tiếp làm giảm canxi huyết thanh và kích thích tuyến cận giáp. Các nguyên nhân khác của hạ canxi máu gồm thiếu vitamin D và/hoặc canxi, hội chứng kém hấp thu, thuốc (ví dụ thiazide, lithium), rối loạn chuyển hóa (ví dụ tăng phosphate máu mạn tính), rối loạn bẩm sinh (ví dụ cường cận giáp sơ sinh thoáng qua), ức chế hủy xương thứ phát do sử dụng bisphosphonate, sau ghép thận và giả cường cận giáp do kháng hormone tuyến cận giáp. Điều trị phụ thuộc vào nguyên nhân.
Cường cận giáp tam phát
Cường cận giáp tam phát xảy ra sau cường cận giáp thứ phát kéo dài, như ở bệnh nhân bệnh thận giai đoạn cuối hoặc suy thận mạn. Xuất hiện tình trạng tăng canxi máu không đáp ứng với điều trị nội khoa ở những bệnh nhân cường cận giáp thứ phát.
