Cường cận giáp Tổng quan về bệnh

Cập nhật: 12 November 2025

Nội dung của trang này:

Nội dung của trang này:

Định nghĩa

Cường cận giáp là tình trạng tăng sản xuất quá mức hormone tuyến cận giáp, có thể do tăng tiết tự phát như trong cường cận giáp nguyên phát hoặc do đáp ứng với tình trạng hạ canxi máu như trong cường cận giáp thứ phát. Nồng độ hormone tuyến cận giáp tăng cao dẫn đến tăng nồng độ canxi trong máu (tăng canxi máu).

Dịch tễ học

Cường cận giáp nguyên phát là rối loạn nội tiết phổ biến, đứng hàng thứ ba sau đái tháo đường và các bệnh lý tuyến giáp. Bệnh gặp nhiều hơn ở người cao tuổi và ở các nhóm dân cư châu Á hoặc người Mỹ gốc Phi. Tỷ lệ hiện mắc cao hơn có thể do khuynh hướng dễ thiếu vitamin D và dẫn đến cường cận giáp thứ phát. Bệnh chủ yếu xuất hiện ở bệnh nhân trên 50 tuổi, với tỷ lệ cao hơn ở nữ giới. Các trường hợp có triệu chứng chiếm ưu thế ở khu vực lục địa Ấn Độ, Trung Đông và Đông Nam Á, trong khi ở Trung Quốc và Nhật Bản ghi nhận mẫu hình chuyển tiếp với đa số các trường hợp không có triệu chứng.

Sinh bệnh học

Hyperparathyroidism_Disease Background 1Hyperparathyroidism_Disease Background 1


Cường cận giáp nguyên phát đặc trưng bởi tăng canxi máu và nồng độ hormone tuyến cận giáp huyết thanh tăng do sản xuất quá mức từ một hoặc nhiều tuyến cận giáp. Cơ chế xảy ra thông qua tăng tái hấp thu canxi ở ống thận, tăng huy động canxi và phosphate từ xương (hủy xương) và tăng tổng hợp 1,25-dihydroxyvitamin D [1,25(OH)2D] tại thận, làm tăng hấp thu canxi và phosphate ở ruột.

Nguyên nhân

Hầu hết các trường hợp cường cận giáp nguyên phát là do u tuyến cận giáp, trong khi cường cận giáp thứ phát và tam phát thường do các tình trạng gây hạ canxi máu (ví dụ bệnh thận), dẫn đến tăng tiết hormone tuyến cận giáp.

Phân loại

Cường cận giáp nguyên phát (PHPT)

Cường cận giáp nguyên phát đặc trưng bởi tăng sản xuất hormone tuyến cận giáp một cách tự chủ, thường do u tuyến cận giáp (>80%) hoặc tăng sản mô tuyến cận giáp; hiếm khi do ác tính. Một số bệnh nhân ghi nhận có tiếp xúc bức xạ và các bất thường di truyền hiếm liên quan đến cường cận giáp nguyên phát. Hai khiếm khuyết phân tử có thể thấy trong các trường hợp u tuyến cận giáp tự phát bao gồm: đảo gen cyclin D1 dẫn đến sự biểu hiện quá mức của cyclin D1 gây tăng sinh tế bào; và đột biến MEN1, chiếm khoảng 20-30% u tuyến cận giáp tự phát và phát hiện ở u tuyến cận giáp có tính chất gia đình.

Hyperparathyroidism_Disease Background 2Hyperparathyroidism_Disease Background 2


Các hội chứng di truyền liên quan đến u tuyến cận giáp có tính chất gia đình bao gồm:
  • MEN1 (hội chứng Werner) và MEN2 (hội chứng Sipple), do đột biến dòng mầm của gen MEN1 và RET.
  • Tăng canxi máu giảm canxi niệu có tính gia đình, là rối loạn trội trên nhiễm sắc thể thường, hiếm gặp, do đột biến mất chức năng ở gen thụ thể cảm nhận canxi ở tuyến cận giáp dẫn đến giảm độ nhạy cảm với canxi ngoại bào.
  • Cường cận giáp nguyên phát nặng ở trẻ sơ sinh, là rối loạn hiếm gặp, khởi phát ngay sau khi sinh do đột biến đồng hợp tử hoặc dị hợp tử của gen thụ thể cảm nhận canxi.
  • Hội chứng cường cận giáp-u xương hàm, là rối loạn trội trên nhiễm sắc thể thường, đặc trưng bởi u xương hàm dạng xơ-bó và u tuyến cận giáp; bệnh thận đa nang, u mô thừa thận và u Wilms cũng có thể gặp ở những bệnh nhân này.
  • Cường cận giáp đơn độc có tính gia đình, không có đặc điểm cụ thể nhưng được cho là biểu hiện tiềm ẩn của MEN1.
Cường cận giáp nguyên phát có thể xuất hiện trong thai kỳ và gây sẩy thai tự nhiên, thai chậm phát triển trong tử cung, hẹp động mạch chủ trên van, thai chết lưu và co giật sơ sinh. Co giật sơ sinh do tuyến cận giáp của thai bị ức chế bởi nồng độ hormone tuyến cận giáp cao trong hệ tuần hoàn của người mẹ, mà hormone tuyến cận giáp dễ dàng qua được nhau thai trong thai kỳ và đây là dấu hiệu ban đầu thường gặp nhất của cường cận giáp ở mẹ. Sau khi sinh, con của người mẹ bị cường cận giáp nguyên phát có thể bị suy chức năng tuyến cận giáp do tình trạng tăng canxi máu khi còn trong tử cung. Trẻ bị ảnh hưởng có thể bị hạ canxi máu và co giật trong những ngày đầu đời. Triệu chứng ban đầu bao gồm triệu chứng tiêu hóa, yếu cơ, rối loạn tri giác, hôn mê và tử vong. Các biến chứng khác được ghi nhận bao gồm sinh non, sẩy thai tự nhiên, thai chậm phát triển và thai chết lưu. Các trường hợp nhẹ có thể được xử trí bằng bù đủ dịch và theo dõi nồng độ canxi. Nguy cơ biến chứng sản khoa giảm ở bệnh nhân được phẫu thuật điều trị cường cận giáp. Can thiệp phẫu thuật có thể được cân nhắc trong tam cá nguyệt thứ hai cho bệnh nhân có nồng độ canxi huyết thanh >11 mg/dL và không có chống chỉ định phẫu thuật. Trẻ sơ sinh cần được theo dõi chặt chẽ tình trạng hạ canxi máu nếu phẫu thuật bị trì hoãn. Phẫu thuật nên được thực hiện sau khi sinh và trước lần mang thai kế tiếp. Không khuyến cáo sử dụng bisphosphonate và denosumab và dữ liệu về việc sử dụng cinacalcet còn hạn chế.

Cường cận giáp thứ phát

Cường cận giáp thứ phát khởi phát do các tình trạng gây hạ canxi máu mạn tính, dẫn đến tăng hoạt động bù trừ của tuyến cận giáp và tăng sản xuất hormone tuyến cận giáp. Khi nồng độ hormone tuyến cận giáp tăng, canxi được huy động thông qua việc tăng hấp thu ở ruột và hủy xương, do đó đặc trưng bởi nồng độ hormone tuyến cận giáp tăng và canxi huyết thanh bình thường hoặc thấp. Thường gặp trong bệnh thận mạn, khi giảm bài tiết phosphate dẫn đến tăng phosphate máu, trực tiếp làm giảm canxi huyết thanh và kích thích tuyến cận giáp. Các nguyên nhân khác của hạ canxi máu gồm thiếu vitamin D và/hoặc canxi, hội chứng kém hấp thu, thuốc (ví dụ thiazide, lithium), rối loạn chuyển hóa (ví dụ tăng phosphate máu mạn tính), rối loạn bẩm sinh (ví dụ cường cận giáp sơ sinh thoáng qua), ức chế hủy xương thứ phát do sử dụng bisphosphonate, sau ghép thận và giả cường cận giáp do kháng hormone tuyến cận giáp. Điều trị phụ thuộc vào nguyên nhân.

Cường cận giáp tam phát

Cường cận giáp tam phát xảy ra sau cường cận giáp thứ phát kéo dài, như ở bệnh nhân bệnh thận giai đoạn cuối hoặc suy thận mạn. Xuất hiện tình trạng tăng canxi máu không đáp ứng với điều trị nội khoa ở những bệnh nhân cường cận giáp thứ phát.