Giám sát
Việc tái khám của bệnh nhân phụ thuộc vào tình trạng phẫu thuật, tình trạng bệnh nhân như triệu chứng, tác dụng không mong muốn, bệnh lý đi kèm, phác đồ điều trị và các chiến lược điều trị khả thi dành cho bệnh tái phát. Tiêu chuẩn Đánh giá Đáp ứng ở bướu đặc (RECIST) là phương pháp được sử dụng phổ biến nhất để đánh giá đáp ứng của bệnh nhân với thuốc hoặc phác đồ điều trị.
Giai đoạn I
Trong khi theo dõi tích cực
Nên khai thác bệnh sử và khám thực thể hàng năm trong quá trình theo dõi tích cực. Có thể thực hiện các xét nghiệm hàng năm nếu có chỉ định lâm sàng. Chụp CT hoặc MRI bụng trong vòng 6 tháng sau khi bắt đầu theo dõi, sau đó ít nhất là chụp CT, MRI hoặc siêu âm hàng năm. Yêu cầu chụp MRI không và có cản từ nếu không có chống chỉ định. Chụp X-quang ngực hoặc CT ngực hàng năm và tại thời điểm ban đầu để đánh giá di căn phổi. Cân nhắc chụp lại hình ảnh ngực nếu cần can thiệp. Sinh thiết bướu thận có thể được cân nhắc khi bắt đầu theo dõi hoặc trong quá trình theo dõi nếu có chỉ định lâm sàng.
Sau kĩ thuật phá hủy bướu
Sau các kỹ thuật phá hủy bướu, cần hỏi bệnh sử và khám thực thể định kỳ hàng năm. Có thể làm các xét nghiệm cận lâm sàng hàng năm theo chỉ định lâm sàng. Chụp CT hoặc MRI bụng có hoặc không có thuốc cản quang, trừ khi có chống chỉ định, hoặc siêu âm tăng tương phản sau 1-3 tháng, 6 tháng và 12 tháng sau liệu pháp phá hủy bướu, sau đó hàng năm theo chỉ định lâm sàng. Ưu tiên chụp MRI hoặc siêu âm tăng tương phản nếu chống chỉ định tiêm thuốc cản quang tĩnh mạch. Có thể cân nhắc sinh thiết bướu thận nếu chẩn đoán hình ảnh hoặc lâm sàng lo ngại về bệnh tồn lưu hoặc tái phát. Nên chụp X-quang hoặc CT ngực hàng năm trong 5 năm để đánh giá những bệnh nhân có các đặc điểm mô bệnh học nguy cơ thấp được xác định bởi sinh thiết (không có bướu dạng sarcôm, RCC grade thấp [grade 1/2]), sinh thiết không chẩn đoán được, hoặc thậm chí không có sinh thiết trước đó.
Sau phẫu thuật cắt thận một phần hoặc tận gốc
Sau phẫu thuật cắt thận một phần hoặc tận gốc, cần khai thác bệnh sử và khám thực thể hàng năm. Có thể thực hiện các xét nghiệm cận lâm sàng hàng năm theo chỉ định lâm sàng. Chụp CT hoặc MRI bụng ban đầu (ưu tiên) có hoặc không có thuốc cản quang đường tĩnh mạch trừ khi có chống chỉ định, trong vòng 3-12 tháng sau phẫu thuật, sau đó hàng năm trong tối đa 5 năm, hoặc lâu hơn theo chỉ định lâm sàng. Có thể lựa chọn lịch trình đánh giá hình ảnh nghiêm ngặt hơn nếu diện cắt dương tính hoặc các đặc điểm mô bệnh học bất lợi (ví dụ: bướu dạng sarcôm, grade cao [grade 3/4]). Chụp X-quang hoặc CT ngực có thể được thực hiện hàng năm trong ít nhất 5 năm, sau đó theo chỉ định lâm sàng. Có thể lựa chọn lịch trình đánh giá hình ảnh nghiêm ngặt hơn (ưu tiên chụp CT) nếu có diện cắt dương tính hoặc các đặc điểm mô bệnh học bất lợi.
Giai đoạn II
Sau phẫu thuật cắt thận một phần hoặc tận gốc
Sau phẫu thuật cắt thận một phần hoặc tận gốc, cần khai thác bệnh sử và khám thực thể hàng năm. Có thể thực hiện các xét nghiệm cận lâm sàng hàng năm theo chỉ định lâm sàng. Chụp CT hoặc MRI bụng ban đầu (ưu tiên) có hoặc không có thuốc cản quang đường tĩnh mạch trừ khi có chống chỉ định, mỗi 6 tháng trong 2 năm, sau đó hàng năm đến 5 năm, hoặc lâu hơn theo chỉ định lâm sàng. Có thể lựa chọn lịch trình đánh giá hình ảnh nghiêm ngặt hơn nếu có diện cắt dương tính hoặc các đặc điểm mô bệnh học bất lợi. Có thể chụp X-quang hoặc CT ngực hàng năm trong ít nhất 5 năm, sau đó theo chỉ định lâm sàng. Có thể lựa chọn lịch trình đánh giá hình ảnh nghiêm ngặt hơn (ưu tiên CT) nếu có diện cắt dương tính hoặc các đặc điểm mô bệnh học bất lợi.
Giai đoạn III
Khai thác bệnh sử và khám thực thể nên được thực hiện mỗi 3-6 tháng trong 3 năm, sau đó hàng năm trong vòng 5 năm và theo chỉ định lâm sàng sau đó. Bộ xét nghiệm sinh hóa toàn diện và các xét nghiệm khác có thể được thực hiện theo chỉ định mỗi 3-6 tháng trong vòng 3 năm, sau đó hàng năm trong vòng 5 năm, sau đó theo chỉ định lâm sàng. Có thể thực hiện CT hoặc MRI bụng ban đầu có hoặc không có thuốc cản quang trừ khi chống chỉ định, trong vòng 3-6 tháng, sau đó là CT, MRI (ưu tiên) hoặc siêu âm mỗi 3-6 tháng trong ít nhất 3 năm, sau đó hàng năm trong vòng 5 năm; sau đó theo chỉ định lâm sàng. Có thể thực hiện CT ngực ban đầu trong vòng 3-6 tháng với hình ảnh tiếp theo (ưu tiên CT) mỗi 3-6 tháng trong ít nhất 3 năm, sau đó hàng năm trong vòng 5 năm. Có thể xem xét đánh giá hình ảnh sau 5 năm tùy thuộc vào đặc điểm của bệnh nhân và các yếu tố nguy cơ của bướu. Hình ảnh học vùng chậu, CT hoặc MRI đầu, MRI cột sống và xạ hình xương có thể được thực hiện khi có triệu chứng.
Bệnh tái phát hoặc giai đoạn IV không phẫu thuật được
Khai thác bệnh sử và khám thực thể nên được thực hiện mỗi 6-16 tuần đối với bệnh nhân đang điều trị toàn thân, hoặc thường xuyên hơn tùy theo chỉ định lâm sàng và điều chỉnh cho phù hợp với loại điều trị toàn thân đang được sử dụng. Các xét nghiệm cần thiết dựa trên thuốc điều trị đang sử dụng. Có thể chụp CT hoặc MRI ngực, bụng và vùng chậu, có hoặc không có thuốc cản quang, trừ khi có chống chỉ định để đánh giá ban đầu trước điều trị hoặc trước khi theo dõi. Theo dõi bằng hình ảnh có thể cân nhắc mỗi 6-16 tuần hoặc khi thấy phù hợp dựa trên tình trạng lâm sàng của bệnh nhân, lịch trình điều trị, tốc độ thay đổi bệnh và vị trí bệnh đang hoạt động. Cân nhắc chụp CT hoặc MRI (ưu tiên) vùng đầu, MRI cột sống và xạ hình xương, tùy theo chỉ định lâm sàng.
Sau điều trị hỗ trợ
Các hướng dẫn theo dõi tương tự như giai đoạn III nên được thực hiện sau khi điều trị hỗ trợ.
Theo dõi dài hạn (>5 năm)
Theo dõi dài hạn nên dựa trên đánh giá các yếu tố của bệnh nhân (ví dụ: tử vong, các yếu tố nguy cơ RCC, tình trạng hoạt động cơ thể) và mong muốn của bệnh nhân. Khuyến cáo nên khai thác bệnh sử và khám thực thể định kỳ hàng năm. Xét nghiệm cận lâm sàng hàng năm sau phẫu thuật nên được thực hiện để đánh giá chức năng thận và độ lọc cầu thận. Có thể cân nhắc chụp hình bụng với khoảng cách ngày càng tăng nếu nguy cơ bướu di căn thấp nhưng đáng kể hoặc tái phát muộn. Có thể cân nhắc chụp hình ngực ở những bệnh nhân RCC grade cao và tăng khoảng cách ngày nếu nguy cơ tái phát thấp nhưng đáng kể.
Giai đoạn I
Trong khi theo dõi tích cực
Nên khai thác bệnh sử và khám thực thể hàng năm trong quá trình theo dõi tích cực. Có thể thực hiện các xét nghiệm hàng năm nếu có chỉ định lâm sàng. Chụp CT hoặc MRI bụng trong vòng 6 tháng sau khi bắt đầu theo dõi, sau đó ít nhất là chụp CT, MRI hoặc siêu âm hàng năm. Yêu cầu chụp MRI không và có cản từ nếu không có chống chỉ định. Chụp X-quang ngực hoặc CT ngực hàng năm và tại thời điểm ban đầu để đánh giá di căn phổi. Cân nhắc chụp lại hình ảnh ngực nếu cần can thiệp. Sinh thiết bướu thận có thể được cân nhắc khi bắt đầu theo dõi hoặc trong quá trình theo dõi nếu có chỉ định lâm sàng.
Sau kĩ thuật phá hủy bướu
Sau các kỹ thuật phá hủy bướu, cần hỏi bệnh sử và khám thực thể định kỳ hàng năm. Có thể làm các xét nghiệm cận lâm sàng hàng năm theo chỉ định lâm sàng. Chụp CT hoặc MRI bụng có hoặc không có thuốc cản quang, trừ khi có chống chỉ định, hoặc siêu âm tăng tương phản sau 1-3 tháng, 6 tháng và 12 tháng sau liệu pháp phá hủy bướu, sau đó hàng năm theo chỉ định lâm sàng. Ưu tiên chụp MRI hoặc siêu âm tăng tương phản nếu chống chỉ định tiêm thuốc cản quang tĩnh mạch. Có thể cân nhắc sinh thiết bướu thận nếu chẩn đoán hình ảnh hoặc lâm sàng lo ngại về bệnh tồn lưu hoặc tái phát. Nên chụp X-quang hoặc CT ngực hàng năm trong 5 năm để đánh giá những bệnh nhân có các đặc điểm mô bệnh học nguy cơ thấp được xác định bởi sinh thiết (không có bướu dạng sarcôm, RCC grade thấp [grade 1/2]), sinh thiết không chẩn đoán được, hoặc thậm chí không có sinh thiết trước đó.
Sau phẫu thuật cắt thận một phần hoặc tận gốc
Sau phẫu thuật cắt thận một phần hoặc tận gốc, cần khai thác bệnh sử và khám thực thể hàng năm. Có thể thực hiện các xét nghiệm cận lâm sàng hàng năm theo chỉ định lâm sàng. Chụp CT hoặc MRI bụng ban đầu (ưu tiên) có hoặc không có thuốc cản quang đường tĩnh mạch trừ khi có chống chỉ định, trong vòng 3-12 tháng sau phẫu thuật, sau đó hàng năm trong tối đa 5 năm, hoặc lâu hơn theo chỉ định lâm sàng. Có thể lựa chọn lịch trình đánh giá hình ảnh nghiêm ngặt hơn nếu diện cắt dương tính hoặc các đặc điểm mô bệnh học bất lợi (ví dụ: bướu dạng sarcôm, grade cao [grade 3/4]). Chụp X-quang hoặc CT ngực có thể được thực hiện hàng năm trong ít nhất 5 năm, sau đó theo chỉ định lâm sàng. Có thể lựa chọn lịch trình đánh giá hình ảnh nghiêm ngặt hơn (ưu tiên chụp CT) nếu có diện cắt dương tính hoặc các đặc điểm mô bệnh học bất lợi.
Giai đoạn II
Sau phẫu thuật cắt thận một phần hoặc tận gốc
Sau phẫu thuật cắt thận một phần hoặc tận gốc, cần khai thác bệnh sử và khám thực thể hàng năm. Có thể thực hiện các xét nghiệm cận lâm sàng hàng năm theo chỉ định lâm sàng. Chụp CT hoặc MRI bụng ban đầu (ưu tiên) có hoặc không có thuốc cản quang đường tĩnh mạch trừ khi có chống chỉ định, mỗi 6 tháng trong 2 năm, sau đó hàng năm đến 5 năm, hoặc lâu hơn theo chỉ định lâm sàng. Có thể lựa chọn lịch trình đánh giá hình ảnh nghiêm ngặt hơn nếu có diện cắt dương tính hoặc các đặc điểm mô bệnh học bất lợi. Có thể chụp X-quang hoặc CT ngực hàng năm trong ít nhất 5 năm, sau đó theo chỉ định lâm sàng. Có thể lựa chọn lịch trình đánh giá hình ảnh nghiêm ngặt hơn (ưu tiên CT) nếu có diện cắt dương tính hoặc các đặc điểm mô bệnh học bất lợi.
Giai đoạn III
Khai thác bệnh sử và khám thực thể nên được thực hiện mỗi 3-6 tháng trong 3 năm, sau đó hàng năm trong vòng 5 năm và theo chỉ định lâm sàng sau đó. Bộ xét nghiệm sinh hóa toàn diện và các xét nghiệm khác có thể được thực hiện theo chỉ định mỗi 3-6 tháng trong vòng 3 năm, sau đó hàng năm trong vòng 5 năm, sau đó theo chỉ định lâm sàng. Có thể thực hiện CT hoặc MRI bụng ban đầu có hoặc không có thuốc cản quang trừ khi chống chỉ định, trong vòng 3-6 tháng, sau đó là CT, MRI (ưu tiên) hoặc siêu âm mỗi 3-6 tháng trong ít nhất 3 năm, sau đó hàng năm trong vòng 5 năm; sau đó theo chỉ định lâm sàng. Có thể thực hiện CT ngực ban đầu trong vòng 3-6 tháng với hình ảnh tiếp theo (ưu tiên CT) mỗi 3-6 tháng trong ít nhất 3 năm, sau đó hàng năm trong vòng 5 năm. Có thể xem xét đánh giá hình ảnh sau 5 năm tùy thuộc vào đặc điểm của bệnh nhân và các yếu tố nguy cơ của bướu. Hình ảnh học vùng chậu, CT hoặc MRI đầu, MRI cột sống và xạ hình xương có thể được thực hiện khi có triệu chứng.
Bệnh tái phát hoặc giai đoạn IV không phẫu thuật được
Khai thác bệnh sử và khám thực thể nên được thực hiện mỗi 6-16 tuần đối với bệnh nhân đang điều trị toàn thân, hoặc thường xuyên hơn tùy theo chỉ định lâm sàng và điều chỉnh cho phù hợp với loại điều trị toàn thân đang được sử dụng. Các xét nghiệm cần thiết dựa trên thuốc điều trị đang sử dụng. Có thể chụp CT hoặc MRI ngực, bụng và vùng chậu, có hoặc không có thuốc cản quang, trừ khi có chống chỉ định để đánh giá ban đầu trước điều trị hoặc trước khi theo dõi. Theo dõi bằng hình ảnh có thể cân nhắc mỗi 6-16 tuần hoặc khi thấy phù hợp dựa trên tình trạng lâm sàng của bệnh nhân, lịch trình điều trị, tốc độ thay đổi bệnh và vị trí bệnh đang hoạt động. Cân nhắc chụp CT hoặc MRI (ưu tiên) vùng đầu, MRI cột sống và xạ hình xương, tùy theo chỉ định lâm sàng.
Sau điều trị hỗ trợ
Các hướng dẫn theo dõi tương tự như giai đoạn III nên được thực hiện sau khi điều trị hỗ trợ.
Theo dõi dài hạn (>5 năm)
Theo dõi dài hạn nên dựa trên đánh giá các yếu tố của bệnh nhân (ví dụ: tử vong, các yếu tố nguy cơ RCC, tình trạng hoạt động cơ thể) và mong muốn của bệnh nhân. Khuyến cáo nên khai thác bệnh sử và khám thực thể định kỳ hàng năm. Xét nghiệm cận lâm sàng hàng năm sau phẫu thuật nên được thực hiện để đánh giá chức năng thận và độ lọc cầu thận. Có thể cân nhắc chụp hình bụng với khoảng cách ngày càng tăng nếu nguy cơ bướu di căn thấp nhưng đáng kể hoặc tái phát muộn. Có thể cân nhắc chụp hình ngực ở những bệnh nhân RCC grade cao và tăng khoảng cách ngày nếu nguy cơ tái phát thấp nhưng đáng kể.
Tiên lượng
Nhóm nguy cơ tiên lượng
Mô hình tiên lượng của Trung tâm Ung thư Memorial Sloan Kettering (MSKCC)
Mô hình Tiên lượng của Trung tâm Ung thư Memorial Sloan Kettering (MSKCC) là mô hình yếu tố tiên lượng được sử dụng rộng rãi nhất.
Các yếu tố tiên lượng bao gồm:
Tiêu chuẩn của Liên đoàn Cơ sở Dữ liệu RCC Di căn Quốc tế (IMDC) có nguồn gốc từ một nghiên cứu trên bệnh nhân ung thư thận di căn được điều trị bằng liệu pháp nhắm đích yếu tố tăng trưởng nội mô mạch máu (VEGF).
Các yếu tố tiên lượng bao gồm:
Mô hình tiên lượng của Trung tâm Ung thư Memorial Sloan Kettering (MSKCC)
Mô hình Tiên lượng của Trung tâm Ung thư Memorial Sloan Kettering (MSKCC) là mô hình yếu tố tiên lượng được sử dụng rộng rãi nhất.
Các yếu tố tiên lượng bao gồm:
- Khoảng thời gian từ khi chẩn đoán đến khi bắt đầu điều trị dưới 1 năm
- Tình trạng hoạt động Karnofsky <80%
- LDH >1,5 lần giới hạn trên của mức bình thường (ULN)
- Nồng độ canxi huyết thanh hiệu chỉnh > ULN
- Nồng độ hemoglobin huyết thanh (Hgb) thấp hơn giới hạn dưới của mức bình thường (LLN)
- Nguy cơ thấp: Không có yếu tố tiên lượng
- Nguy cơ trung bình: Có một đến hai yếu tố tiên lượng
- Nguy cơ xấu: Có ≥3 yếu tố tiên lượng
Tiêu chuẩn của Liên đoàn Cơ sở Dữ liệu RCC Di căn Quốc tế (IMDC) có nguồn gốc từ một nghiên cứu trên bệnh nhân ung thư thận di căn được điều trị bằng liệu pháp nhắm đích yếu tố tăng trưởng nội mô mạch máu (VEGF).
Các yếu tố tiên lượng bao gồm:
- Khoảng thời gian từ khi chẩn đoán đến khi bắt đầu điều trị toàn thân <1 năm
- Tình trạng hoạt động Karnofsky <80%
- Hgb huyết thanh <120 g/L hoặc 12 g/dL
- Calci huyết thanh >10,2 mg/dL
- Số lượng bạch cầu trung tính >7,0 x 109/L
- Số lượng tiểu cầu >400.000
- Nguy cơ thuận lợi: Không có yếu tố tiên lượng
- Nguy cơ trung bình: Có một đến hai yếu tố tiên lượng
- Nguy cơ xấu: Có ba đến sáu yếu tố tiên lượng
