Các dấu ấn sinh học trong máu (
blood-based biomarker – BBB) có thể giúp phát hiện sớm bệnh Alzheimer (AD), đặc biệt sau khi tiêu chuẩn chẩn đoán mới vừa được cập nhật, nhấn mạnh việc chẩn đoán dựa trên các dấu ấn sinh học cốt lõi. Kinh nghiệm ban đầu về sử dụng lecanemab, một trị liệu làm thay đổi tiến triển bệnh (DMT) dành cho bệnh nhân suy giảm nhận thức nhẹ hoặc sa sút trí tuệ nhẹ do AD, đã được chia sẻ tại hội nghị Advances in Medicine (AIM) 2025.
Tiêu chuẩn chẩn đoán và xác định giai đoạn bệnh được điều chỉnh
Tại AIM 2025, bác sĩ Felix Chan, chuyên khoa Lão tại Hồng Kông, cho biết: “Bộ tiêu chuẩn chẩn đoán và xác định giai đoạn AD do Hiệp hội Alzheimer công bố điều chỉnh năm 2024 là một bước ngoặt mang tính cách mạng”. Kết quả bất thường của một dấu ấn sinh học cốt lõi 1 (bao gồm amyloid-β 42 [Aβ42], hoặc tau 217 phosphoryl hóa [p-tau217], p-tau181, hoặc p-tau231) hiện được xem là đủ để xác lập chẩn đoán AD và định hướng quyết định lâm sàng trong suốt tiến trình bệnh, vì AD được định nghĩa là một quá trình sinh học bắt đầu từ khi xuất hiện các biến đổi bệnh lý thần kinh đặc trưng, dù người bệnh chưa có triệu chứng. [
Alzheimer’s Dement 2024;20:5143–5169]
Dấu ấn sinh học trong máu có thể cách mạng hóa chẩn đoán bệnh Alzheimer
Sự ra đời của các BBB mới có thể cách mạng hóa quy trình chẩn đoán sa sút trí tuệ, giúp phát hiện AD sớm hơn, đặc biệt trong bối cảnh phải chờ đợi lâu để được chụp MRI hoặc CT tại các bệnh viện công ở Hồng Kông do PET amyloid xác định không được thực hiện thường quy.
Một BBB đầy triển vọng là p-tau217, có liên quan một cách chặt chẽ với sinh bệnh học AD. Tỷ lệ p-tau217 trong huyết tương (tức tỷ số p-tau217/non-p-tau217 trong huyết tương) cho thấy độ chẩn đoán chính xác tương đương (90%) với các dấu ấn sinh học trong dịch não tủy được phê duyệt lâm sàng (tức tỷ lệ p-tau:Aβ42 [91%] và Aβ42:Aβ40 [87%]) ở những người suy giảm nhận thức được đánh giá bằng PET Aβ tại tuyến chuyên khoa. [
Nat Med 2024;30:1085–1095]
Một nghiên cứu gần đây (n = 1.213) tiến hành tại cả tuyến chăm sóc cơ sở và tuyến chuyên khoa cho thấy độ chẩn đoán chính xác đạt 90% khi dùng tỷ lệ p-tau217 đơn độc để xác định AD ở người có triệu chứng nhận thức. Khi kết hợp p-tau217 với tỷ lệ Aβ42:Aβ40 trong huyết tương (điểm xác suất amyloid 2 [APS2]), độ chính xác vẫn đạt 90%. [
JAMA 2024;332:1245–1257]
Trong nhóm bác sĩ tuyến chăm sóc cơ sở, APS2 cho thấy độ chính xác 91% trong chẩn đoán lâm sàng AD, so với 61% khi chỉ dùng khám lâm sàng, trắc nghiệm nhận thức và CT. Ở nhóm chuyên gia sa sút trí tuệ, độ chính xác đạt 91% so với 73%.
Bác sĩ Chan nhận định: “Đây có thể là hướng đi tiềm năng để phát hiện sớm AD do là xét nghiệm máu không xâm lấn và chi phí thấp hơn nhiều. Các BBB đáng tin cậy có thể giúp định hướng lựa chọn DMT phù hợp.”
Kinh nghiệm với lecanemab tại Hồng Kông
Trong số hai DMT đã được FDA Hoa Kỳ phê duyệt cho giai đoạn sớm của AD, lecanemab là thuốc đầu tiên và là duy nhất hiện nay có mặt tại Hồng Kông.Bác sĩ Chan báo cáo: “Chúng tôi đã có gần 1 năm kinh nghiệm lâm sàng với lecanemab. Tính đến tháng 5/2025, 11 bệnh nhân đã được điều trị tại Tây Hong Kong. Đa số bệnh nhân tiếp tục điều trị. Hai bệnh nhân ngưng điều trị do bất thường hình ảnh liên quan amyloid (ARIA) – gồm ARIA-xuất huyết (n=1) và ARIA-phù (n=1); một bệnh nhân tự ý ngưng điều trị.”
Trong đoàn hệ này (65–84 tuổi; điểm MoCA nền [Montreal Cognitive Assessment score] là 10–30), sáu bệnh nhân đã truyền ≥10 liều lecanemab tính đến tháng 5/2025. Bác sĩ Chan cho biết: “Bệnh nhân điều trị lâu nhất đã nhận 19 lần truyền, và MRI không thấy có vi xuất huyết.”
Trong khi dữ liệu từ đoàn hệ Hồng Kông đang tiếp tục được thu thập, thử nghiệm pha 3 then chốt của lecanemab cho thấy chức năng nhận thức và hoạt động hàng ngày suy giảm ít hơn đáng kể, đồng thời giảm rõ rệt gánh nặng amyloid so với giả dược sau 18 tháng. [
N Engl J Med 2023;388:9–21] Dữ liệu 3 năm cho thấy lợi ích rõ rệt khi điều trị sớm, đặc biệt ở bệnh nhân có gánh nặng amyloid thấp lúc ban đầu. [van Dyck CH, AAIC, 2024] ARIA và phản ứng liên quan truyền dịch thấp hơn ở người châu Á so với dân số chung của nghiên cứu. [
J Prev Alzheimers Dis 2025;12:100160]