Theo kết quả phân tích MRI tăng cường tương phản động (DCE-MRI) của nghiên cứu MOSAIC giai đoạn IV, nhãn mở, Apremilast, chất ức chế phosphodiesterase-4 điều hòa miễn dịch đường uống, giúp giảm viêm ở các khớp riêng lẻ và viêm ngón (dactylitis) trên lâm sàng theo hình ảnh MRI ở bệnh nhân
viêm khớp vảy nến (PsA).
Những phát hiện này nối tiếp kết quả phân tích chính cho thấy các chỉ số viêm được cải thiện ở những bệnh nhân PsA sau khi điều trị bằng apremilast, theo hệ thống điểm MRI PsA của bàn tay và hệ thống điểm MRI toàn thân về tình trạng viêm ở các khớp ngoại biên và điểm bám gân. [
Lancet Rheumatol 2025;7:e118-e126]
Các nhà nghiên cứu giải thích, “[Chúng tôi cũng đã thực hiện] DCE-MRI tùy chọn… trong hầu hết các trường hợp. DCE-MRI là kỹ thuật có độ nhạy cao cho phép đánh giá tưới máu thông qua định lượng tự động mức hấp thu thuốc cản quang gadolinium trong màng hoạt dịch và tủy xương, từ đó ước tính được mức độ viêm khớp”. [
Acad Radiol 2007;14:1189-1200]
Tổng cộng 122 người tham gia (tuổi trung bình 46,6; 54,9% nữ) được dùng apremilast 30 mg hai lần một ngày kèm hoặc không kèm methotrexate liều ổn định trong tối đa 48 tuần. Khoảng 42% bệnh nhân dùng phối hợp với methotrexate (liều trung bình 4,7 mg/tuần). DCE-MRI được thực hiện ở thời điểm ban đầu trên 110 bệnh nhân và tại tuần 24 và 48. [EULAR 2025, abstract POS1345]
Trong phân tích DCE-MRI được xác định trước, không cho thấy thay đổi có ý nghĩa thống kê trong kết quả trung bình của dữ liệu tất cả các khớp. Theo các nhà nghiên cứu, điều này có thể do tác động pha loãng từ các khớp không bị ảnh hưởng.
Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu chỉ ra rằng khi xem xét các khớp bị ảnh hưởng nhiều nhất dựa trên giá trị định lượng DCE-MRI (DEMRIQ) tại thời điểm ban đầu, có sự giảm đáng kể về điểm số trung bình DEMRIQ-VOL* và DEMRIQ-ME* so với ban đầu ở các khớp DIP, PIP và MCP** bị ảnh hưởng nhiều nhất vào tuần 24 và 48.
Trong phân nhóm ModDA*** (n=53), sự thay đổi trung bình của DEMRIQ-Vol so với ban đầu tại tuần 24 đối với các khớp DIP, PIP, và MCP bị ảnh hưởng nhiều nhất lần lượt là -0,07 mL; -0,07 mL; và -0,09 mL. Các giá trị tương ứng tại tuần 48 là -0,06 mL; -0,04 mL và -0,08 mL. Đối với DEMRIQ-ME, mức giảm ở các khớp bị ảnh hưởng nhiều nhất là -0,1 (DIP) mL và -0,15 (PIP) mL tại tuần 24, và lần lượt là -0,11 mL và -0,12 mL tại tuần 48. Theo các nhà nghiên cứu, những thay đổi trung bình có ý nghĩa thống kê dựa trên giá trị p<0,05.
Trong dân số HDA*** (n=53), các nhà nghiên cứu ghi nhận sự giảm có ý nghĩa thống kê hoặc giảm về mặt số học của DEMRIQ-Vol và DEMRIQ-ME ở tất cả các khớp bị ảnh hưởng nhiều nhất vào tuần 24 và 48.
Đối với DEMRIQ-IRE*, sự cải thiện trên tất cả các khớp là khiêm tốn nhưng không đạt được ý nghĩa thống kể ở cả hai phân nhóm ModDA và HDA.
Ở những bệnh nhân viêm ngón tại thời điểm ban đầu (n=45; LDI# trung bình 39,7), có sự giảm có ý nghĩa thống kê LDI so với ban đầu tại tuần 24 và 48 (trung bình bình phương tối thiểu lần lượt là -34,38 và -38,71). Vào tuần 48, số lượng viêm ngón ở tất cả bệnh nhân, trừ 2 trong số 30 người, đều bằng 0.
Khoảng 12% những người tham gia có tác dụng phụ trong quá trình điều trị (TEAE) dẫn đến việc ngừng thuốc nghiên cứu. Các TEAE thường gặp nhất là tiêu chảy (33,6%), nôn (12,3%), và đau đầu (10,7%). Tỷ lệ TEAE nghiêm trọng và nặng đều thấp (4,9% ở cả hai).
Thông điệp chính
Các nhà nghiên cứu lưu ý, “ở những bệnh nhân PsA điều trị với apremilast, viêm khớp riêng lẻ được đánh giá bởi DCE-MRI đã giảm đáng kể từ thời điểm ban đầu đến 24 và 48 tuần ở tất cả các khớp DIP, PIP và MCP bị ảnh hưởng nhất”.
Họ bổ sung, “những dữ liệu này chứng minh giá trị của công nghệ DCE-MRI trong phân tích có mục tiêu và cho thấy sự giảm viêm do điều trị ở các khớp bị ảnh hưởng nặng nhất bởi tình trạng viêm trong PsA”.