Một nghiên cứu được thực hiện tại một cơ sở y tế ở Singapore đã cho thấy tính khả thi và ứng dụng vào thực hành của chi phí dựa trên hoạt động theo thời gian (TDABC: time-driven activity-based costing) trong việc đo lường gánh nặng kinh tế của các phác đồ hóa trị trong điều trị ung thư ngoại trú.
Đối với mỗi phác đồ hóa trị, tổng chi phí thay đổi đáng kể tùy theo loại ung thư và bối cảnh điều trị. Chẳng hạn như, điều trị bổ trợ với doxorubicin-cyclophosphamide-paclitaxel trong 24 tuần ở bệnh nhân ung thư vú có chi phí 17.075,43 đô la Singapore (SGD), phần lớn phát sinh từ việc sử dụng nhân lực (2,976 đơn vị nhân công) và thời gian sử dụng ghế (4.350,93 phút). [
Proc Singap Healthc 2025;doi:10.1177/20101058251355293]
Ngoài ra, điều trị di căn với docetaxel mỗi 3 tuần trong 6 tuần có chi phí 3.174,65 SGD, trong khi paclitaxel hàng tuần có chi phí 6.810,79 SGD do thời gian sử dụng ghế tăng lên (2.606,57 phút).
Đối với bệnh nhân ung thư phổi, điều trị bằng pemetrexed-carboplatin-pembrolizumab có chi phí 25.711,17 SGD, trong khi osimertinib có chi phí 13.992,05 SGD. Ngược lại, các phác đồ điều trị ung thư tiêu hóa dao động từ 9.548,43 SGD trong điều trị bổ trợ với capecitabine-oxaliplatin đến 1.264,52 SGD trong điều trị giảm nhẹ với capecitabine.
Hơn nữa, chi phí cơ bản trung bình của bệnh nhân ngoại trú là 310 SGD cho mỗi lần khám, với chi phí tăng thêm do loại hóa trị, tần suất, nhân lực và quản lý phản ứng có hại của thuốc.
Các nhà nghiên cứu cho biết “ứng dụng TDABC trong ung thư còn hạn chế nhưng là thành phần không thể thiếu của chăm sóc dựa trên giá trị. Hiểu rõ chi phí thực tế và các yếu tố chi phí trong chăm sóc ung thư ngoại trú có thể giúp sử dụng nguồn lực hiệu quả hơn trong bối cảnh có nhiều hạn chế.”
Khuyến nghị
Mặc dù mô hình cung cấp dịch vụ hiện tại ở Trung tâm Ung thư Quốc gia Singapore đã hiệu quả ở một số khía cạnh, các lĩnh vực khác có thể được cải thiện.
Khuyến nghị cho việc cải tiến thêm bao gồm “chuẩn hóa theo dõi thời gian-chuyển động giữa các phác đồ để đảm bảo tính nhất quán”, “phát triển thu thập dữ liệu tự động từ bệnh án điện tử để giảm gánh nặng ánh xạ thủ công”, và “tích hợp mô hình hóa chi phí-hiệu quả bằng số năm sống điều chỉnh chất lượng (QALY) hoặc chỉ số thời gian sống không bệnh tiến triển vào kết cục của TDABC.”
Các nhà nghiên cứu cho biết, “những cải tiến này sẽ đồng bộ việc thực hành tính toán chi phí ung thư của Singapore với các thực hành tốt nhất trên thế giới, đồng thời hỗ trợ các chính sách chuyển sang thanh toán theo gói và mô hình hoàn trả dựa trên dân số,” [
Harv Bus Rev 2011;89:46-52;
BMJ 2016;352:i788]
Chi phí công suất
Thông qua TDABC, một chi phí công suất được tạo ra cho mỗi nguồn lực được dùng trong các hoạt động chính của quy trình chăm sóc. Công cụ này cung cấp một khung tham chiếu để giúp nhà cung cấp đưa ra quyết định cân nhắc đến chi phí trong điều trị ung thư cũng như các bệnh lý khác.
Ở cấp cơ sở, TDABC giúp phân tích các phương pháp điều trị thay thế đồng thời tạo tính minh bạch nhằm hỗ trợ giảm chi phí điều trị. Ở cấp quốc gia, công cụ này có thể hỗ trợ nhà hoạch định chính sách trong các can thiệp chi phí-hiệu quả. [
Harv Bus Rev 2011;89:46-52;
BMJ 2016;352:i788]
Các nhà nghiên cứu cho biết, “một khuôn khổ đa ngành, gia tăng giá trị trong chăm sóc ung thư tích hợp TDABC sẽ cung cấp cho bác sĩ ung thư, nhà chi trả bảo hiểm, và nhà lãnh đạo tổ chức các công cụ để cung cấp chăm sóc gia tăng giá trị ở cấp cơ sở và hơn nữa.”
Trong nghiên cứu này, TDABC được sử dụng để xây dựng sơ đồ quy trình về chu kỳ cung cấp chăm sóc, chi tiết từng lần khám tại phòng khám hoặc đơn vị điều trị ngoại trú. Các nguồn lực như vật tư, nhân sự, và thiết bị được xác định ở mỗi bước. Chi phí theo phút được tính dựa trên yêu cầu thời gian, trong khi tổng chi phí được tính bằng cách cộng các chi phí nguồn lực cho mỗi đợt chăm sóc.