Công thức GLP-1/GIP thế hệ mới có kết quả tốt trong thử nghiệm giai đoạn II trên béo phì, đái tháo đường típ 2 (T2D)

22 Jan 2026
Công thức GLP-1/GIP thế hệ mới có kết quả tốt trong thử nghiệm giai đoạn II trên béo phì, đái tháo đường típ 2 (T2D)
Trong phần 1 (xác định liều, có và không kèm tăng liều) của nghiên cứu MariTide giai đoạn II, việc giảm cân đáng kể và cải thiện đường huyết mạnh mẽ đã đạt được với maridebart cafraglutide (MariTide) – chất đối kháng GIPR* và đồng vận GLP-1R** tác dụng kéo dài đầu tiên - ở những người béo phì hoặc thừa cân và đái tháo đường típ 2 (T2D).

Giáo sư Ania Jastreboff từ trường Y Yale, New Haven, Connecticut, Mỹ, chia sẻ tại hội thảo chuyên đề cập nhật tại Hiệp hội Đái tháo đường Hoa Kỳ (ADA) 2025, “béo phì là một bệnh mạn tính. Cần những lựa chọn bền vững giúp giảm bớt rào cản điều trị cho những bệnh nhân béo phì. Lựa chọn điều trị béo phì một lần mỗi tháng có thể là một phần của giải pháp để vượt qua những rào cản này”.

Giáo sư Jastreboff nói “chúng ta có những lựa chọn tiêm một lần một tuần rất hiệu quả - tức là 52 mũi tiêm một năm. Nhưng hãy hình dung một thế giới nơi bạn chỉ cần 12 mũi, hoặc có thể ít mũi tiêm hơn mỗi năm – chỉ một lần mỗi tháng, hoặc ít hơn nữa”.

Nghiên cứu được chia thành hai nhóm: Nhóm A bao gồm những người tham gia bị béo phì, trong khi nhóm B bao gồm những người béo phì và T2D. [ADA 2025, abstract CT-SY43-1.5]

Nhóm A: Béo phì

Nhóm A gồm 465 bệnh nhân (tuổi trung bình 47,9 tuổi; 62,8% nữ; 22,2% người châu Á). Cân nặng trung bình là 107,4 kg; BMI trung bình 37,7 kg/m2; và HbA1c trung bình là 5,5%. Những người tham gia được phân ngẫu nhiên vào 7 nhóm: 4 nhóm không tăng liều (không-DE), 2 nhóm DE, và 1 nhóm giả dược.

Trong nhóm không DE, những người tham gia được nhận một trong 4 liều cố định hàng tháng gồm giả dược, MariTide 140 mg, 280 mg, 420 mg; hoặc MariTide 420 mg cách tháng. MariTide DE được sử dụng trong 4 tuần (khởi đầu với hai liều 70 mg) hoặc 12 tuần (khởi đầu với 70 mg [tuần 0-4], 140 mg [tuần 4-8], và 280 mg [tuần 8-12]), sau đó là 420 mg hàng tháng.

Theo ước tính hiệu quả (trong thời gian điều trị), những người dùng MariTide ghi nhận mức giảm cân trung bình lên tới khoảng 20% sau 52 tuần. Ở nhóm giả dược, mức giảm cân trung bình chỉ 2,6%.

Giáo sư Jastreboff cho biết, “hiệu quả giảm cân [với MariTide] không bị ảnh hưởng bởi [DE và] về mặt số liệu là tương tự nhau giữa các nhóm điều trị, bất kể liều”. “[Hơn nữa,] đường cong giảm cân chưa đạt được trạng thái bình nguyên sau 52 tuần ở nhóm dùng MariTide”.

Các thông số nhân trắc học, chuyển hóa tim mạch

Từ chu vi vòng bụng (WC) trung bình ban đầu là 115,2 cm (45,5 inch); những người dùng giả dược chỉ giảm được 3,6 cm sau 52 tuần. Với MariTide, mức giảm WC dao động từ 14,6 cm (nhóm DE 4 tuần) và 16,8 cm (nhóm DE 12 tuần). “Mức giảm WC của nhóm dùng MariTide cao hơn 4,5 lần so với nhóm dùng giả dược. Giảm 16,8 cm tương đương ~6,8 inch. Giáo sư Jastreboff nhận xét dí dỏm, theo một thang đo khóa thắt lưng [cụ thể], con số này tương đương khoảng 7 nấc khóa”.

Theo Giáo sư Jastreboff ghi nhận, những người dùng MariTide giảm khối lượng mỡ nhiều hơn (từ 26,2% đến 36,8%) so với khối lượng nạc (từ 8,6% đến 11,6%). Đáng chú ý, phần khối lượng nạc bị mất chiếm khoảng ~30% tổng mức cân nặng giảm được.

Tất cả các nhóm dùng MariTide có mức giảm HbA1c là 0,4%. Trong những người tiền đái tháo đường lúc ban đầu, 70%-96% trở về mức đường huyết bình thường (HbA1c <5,7%) khi dùng MariTide, so với chỉ 17% ở nhóm dùng giả dược.

Các nhóm dùng MariTide có sự cải thiện lớn hơn về huyết áp (BP) tâm thu và tâm trương, cũng như tất cả các chỉ số lipid, so với nhóm dùng giả dược.

Tính an toàn, khả năng dung nạp

Theo Giáo sư Jastreboff ghi nhận, bên cạnh việc báo cáo thông thường (không được yêu cầu) về biến cố bất lợi (AE), nghiên cứu này còn sử dụng M-INVR***, một công cụ đánh giá do bệnh nhân báo cáo thường được sử dụng trong các thử nghiệm hóa trị để đánh giá tỷ lệ mắc, thời gian, và tần suất buồn nôn, nôn, và nôn khan. M-INVR được thực hiện hàng ngày trong 7 ngày sau mỗi liều tiêm cho đến tuần thứ 12.

Giáo sư Jastreboff giải thích, “M-INVR là một phương pháp đánh giá khả năng dung nạp nghiêm ngặt hơn so với báo cáo AE thông thường được sử dụng trong các thử nghiệm béo phì, và nó có thể dẫn đến sai lệch trong việc xác định. Nhưng một lần nữa, đây là thử nghiệm đầu tiên áp dụng phương pháp này, và tôi nghĩ, trong thử nghiệm giai đoạn II, nó thực sự cung cấp thông tin hữu ích về khả năng dung nạp”.

Các biến cố bất lợi (AE) phổ biến nhất là trên đường tiêu hóa (GI), chủ yếu ở mức độ nhẹ đến trung bình, và xảy ra với tần suất cao hơn ở nhóm không DE. Tỷ lệ ngừng sử dụng MariTide do AE GI thấp hơn ở nhóm DE so với nhóm không DE (~10% so với 20%).
Khi xem xét các trường hợp buồn nôn và nôn với bốn mức liều MariTide cao nhất, hầu hết đều xảy ra ở liều đầu tiên, và tỷ lệ này giảm rõ rệt ở mỗi liều tiếp theo.

Nhóm B: Béo phì và T2D

Nhóm B bao gồm 127 bệnh nhân (tuổi trung bình 55,1 tuổi; 42% nữ; 24,4% người châu Á). Cân nặng trung bình là 103,9 kg; BMI trung bình 36,5 kg/m2; và HbA1c trung bình là 7,9%. Những người tham gia được phân ngẫu nhiên vào nhóm dùng giả dược hoặc một trong ba nhóm dùng MariTide liều cố định hàng tháng (140, 280, hoặc 420 mg).

Trong quá trình điều trị, liều MariTide cao nhất mang lại hiệu quả giảm cân lớn nhất (17%). Hai liều MariTide thấp hơn, giúp giảm được 12% cân nặng. Nhóm dùng giả dược chỉ giảm được 1,4%.

Theo Tiến sĩ Harold Bays từ Đại học Y Louisville, Kentucky, Mỹ, trình bày tại ADA 2025, WC giảm ở tất cả các liều MariTide, giảm nhiều nhất ở liều cao nhất (16,8 cm). “MariTide cũng làm giảm tỷ lệ mỡ cơ thể, trong đó khối lượng nạc giảm chiếm chưa đến 1/3 tổng mức cân nặng giảm được”.

Mức giảm HbA1c với MariTide dao động từ 1,9% đến 2,2%; so với chỉ 0,1% ở nhóm dùng giả dược. Ngoài ra, gần 90% người dùng MariTide đạt được HbA1c ≤6,5% bất kể liều.

Tiến sĩ Bay bổ sung, MariTide làm giảm đường huyết đói mà không gây tăng insulin huyết thanh lúc đói. Đáng chú ý, có sự gia tăng không đồng nhất về LDL-C và giảm BP tâm thu.

Cũng như nhóm A, các AE thường gặp nhất ở nhóm B liên quan đến GI, phổ biến nhất là nôn và buồn nôn.

Thời gian bán hủy, cơ chế tác động kép

Tóm lại, MariTide là một liên hợp kháng thể-peptide thế hệ mới với cơ chế tác động kép và thời gian bán hủy rất dài (21 ngày). Giáo sư Jastreboff cho biết, “thời gian này dài gấp 3 lần bất kỳ liệu pháp nào [Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) phê duyệt] mà chúng ta hiện có để điều trị béo phì … Nền tảng của kháng thể đơn dòng cho phép thời gian bán hủy dài hơn, hỗ trợ việc sử dụng hàng tháng hoặc ít thường xuyên hơn”.

Giáo sư Jastreboff tiếp tục, “liệu pháp điều trị hàng tháng hoặc ít thường xuyên hơn sẽ là một bước tiến quan trọng trong lĩnh vực điều trị béo phì, và [MariTide] có thể là hoạt chất đó. Việc sử dụng ít thường xuyên hơn có thể giảm bớt gánh nặng điều trị, do đó mang lại cơ hội tối ưu hóa kết quả sức khỏe cho những người mắc bệnh béo phì”.

Trong số những người mắc béo phì kèm T2D, mô hình lợi ích tương tự đã được ghi nhận. Tuy nhiên, Tiến sĩ Bay nhấn mạnh rằng thách thức sẽ là các tác dụng phụ. Tiến sĩ Bay lưu ý, xét đến các AE và thiếu DE trong nhóm B, những câu hỏi sau đã được đặt ra: “Liệu có cách khác để dùng thuốc không? Liệu có phác đồ liều khác nào có thể …duy trì cân nặng [và] giảm HbA1c nhưng vẫn cho phép bệnh nhân gặp ít tác dụng phụ hơn?”.

94% bệnh nhân đủ điều kiện đã chọn tham gia phần 2 của thử nghiệm, phần này sẽ xác định liều duy trì và đánh giá mức độ duy trì hiệu quả của MariTide.
*GIPR: thụ thể polypeptide kích thích tiết insulin phụ thuộc glucose.
**GLP-1R: thụ thể glucagon-like peptide-1.
***M-INVR: chỉ số buồn nôn, nôn và nôn khan chỉnh sửa.
Nguồn: MIMS. Novel GLP-1/GIP formula finishes strong in phase II obesity, T2D trial. https://www.mims.com/vietnam/news-updates/topic/novel-glp-1-gip-formula-finishes-strong-in-phase-ii-obesity--t2d-trial Accessed 08-Sept-2025.