Thay thế đồ uống ít năng lượng bằng nước trong 18 tháng giúp giảm cân nhiều hơn, cải thiện kiểm soát đường huyết, và thuyên giảm bệnh đái tháo đường nhiều hơn ở phụ nữ mắc
đái tháo đường típ 2 (T2D) và thừa cân hoặc
béo phì. Những lợi ích này được duy trì trong suốt 18 tháng nghiên cứu.
Chương trình quản lý cân nặng kéo dài 18 tháng gồm 2 giai đoạn: Can thiệp giảm cân tích cực trong 6 tháng (giai đoạn 1) và duy trì cân nặng trong 12 tháng (giai đoạn 2). Giai đoạn 1 bao gồm một chương trình giảm cân theo kế hoạch nhằm giảm 0,5-1 kg/tuần, với 60 phút hoạt động thể lực trong 5 ngày/tuần và tư vấn hai tuần một lần. Trong giai đoạn 2, những người tham gia được tư vấn dinh dưỡng và tham gia các buổi sinh hoạt nhóm hàng tháng, với việc theo dõi tuân thủ qua nhật ký ăn uống và các ghi nhận hoạt động thể lực.
81 phụ nữ trưởng thành mắc T2D và béo phì hoặc thừa cân, thường xuyên dùng đồ uống ít năng lượng được phân ngẫu nhiên theo tỷ lệ 1:1 để tiếp tục dùng 250 mL đồ uống ít năng lượng, năm ngày một tuần hoặc thay đồ uống ít năng lượng bằng 250 mL nước sau bữa trưa. [ADA 2025, abstract 586-P]
Từ thời điểm ban đầu đến tháng 18, nhóm dùng nước thay đổi đáng kể cân nặng so với nhóm tiếp tục dùng đồ uống ít năng lượng (trung bình -6,82 kg so với -4,85 kg; p<0,001), và một phần ba (34,1%) người ở nhóm dùng nước đạt được mức giảm ≥10% cân nặng so với chỉ 2,5% ở nhóm dùng đồ uống ít năng lượng (p<0,0001).
Tỷ lệ người tham gia đạt thuyên giảm T2D (HbA1c <6,5% hoặc <48 mmol/mol) tại thời điểm 18 tháng cao gấp 2 lần ở nhóm dùng nước so với nhóm dùng đồ uống ít năng lượng (90% so với 45%, tỷ số chênh [OR] 11,31; khoảng tin cậy [CI] 95% 3,39-37,73; p <0,0001). Đáng chú ý, 85% những người dùng nước đạt được sự thuyên giảm sau giai đoạn 1; trong khi nhóm dùng đồ uống ít năng lượng chỉ có 27,5% đạt được kết quả này sau 6 tháng.
Ở tháng thứ 18, BMI trung bình cũng thay đổi đáng kể (-2,66 kg/m2 so với -1,89 kg/m2; p<0,001), vòng eo (-8 cm so với -7 cm; p=0,018), và nồng độ triglyceride (-0,45 mmol/L so với -0,34 mmol/L; p=0,005) giữa nhóm dùng nước và nhóm dùng đồ uống ít năng lượng, cũng như các chỉ số đường huyết bao gồm HbA1c (-1,33% so với -0,51%), đường huyết đói (-2 mmol/L so với -1,15 mmol/L), đường huyết 2 giờ sau ăn (-1,77 so với -1,02 mmol/L), insulin (-5,88 U/L so với -3,51 U/L), và chỉ số đánh giá mô hình cân bằng nội môi về tình trạng kháng insulin (-3,51 so với -2,17; p <0,001 cho tất cả).
Nhóm dùng nước cũng giảm nhiều hơn về lượng năng lượng thu nhận (-477 kcal so với -309 kcal; p=0,001) và lượng carbohydrate thu nhận (p=0,002) so với nhóm dùng đồ uống ít năng lượng.
Nước vẫn là lựa chọn tối ưu
Béo phì là nguyên nhân chính dẫn đến sự gia tăng tỷ lệ mắc T2D trên toàn thế giới, các nhà nghiên cứu lưu ý “hầu hết những người mắc T2D đều thừa cân hoặc béo phì; do đó, giảm cân là mục tiêu điều trị chính. Việc giảm ≥10% cân nặng có liên quan chặt chẽ đến sự thuyên giảm bệnh đái tháo đường.”
Đồ uống ít năng lượng được coi là một lựa chọn thay thế phù hợp cho đồ uống có đường. [
Circulation 2007;116:480-488;
Am J Clin Nutr 2014;100:765-777] Tuy nhiên, bằng chứng đã chỉ ra mối liên quan tiềm ẩn giữa lượng tiêu thụ đồ uống ít năng lượng và tăng nguy cơ T2D và béo phì. [
Adv Nutr 2023;14:710-717]
Các nhà nghiên cứu cho biết “Những phát hiện của chúng tôi cung cấp bằng chứng lâm sàng để ủng hộ khuyến nghị chung của các chuyên gia dinh dưỡng rằng nước là đồ uống tối ưu để thúc đẩy giảm cân và cải thiện kiểm soát đường huyết ở những người mắc T2D”.
Họ bổ sung, việc thay thế bằng nước cũng liên quan đến sự tuân thủ tốt hơn các mục tiêu trong chế độ ăn uống và giảm nhiều hơn lượng năng lượng và carbohydrate ăn vào. Các nhà nghiên cứu kêu gọi thực hiện thêm các thử nghiệm để xác nhận kết quả và điều chỉnh hướng dẫn quản lý bệnh đái tháo đường.