Kết quả sơ bộ của nghiên cứu SIERRA ghi nhận hồ sơ an toàn ở mức có thể kiểm soát được khi sử dụng một liều tremelimumab (T) kết hợp với durvalumab (D) dùng định kỳ (phác đồ STRIDE) trong điều trị
ung thư biểu mô tế bào gan không thể phẫu thuật (uHCC) ở bệnh nhân châu Á.
SIERRA là nghiên cứu pha IIIb đang trong quá trình thực hiện, nhằm đánh giá hiệu quả và tính an toàn của phác đồ STRIDE như điều trị bước một cho nhóm dân số bệnh nhân rộng hơn, có tiên lượng xấu hơn so với nghiên cứu HIMALAYA. [NEJM Evid 2022;1:EVIDoa2100070]
Theo tác giả chính, Tiến sĩ Jung Yong Hong – Trung tâm Y tế Samsung, Trường Y Đại học Sungkyunwan, Seoul, Hàn Quốc, nghiên cứu đã cung cấp bằng chứng sơ bộ về tính an toàn của phác đồ STRIDE trên bệnh nhân châu Á mắc uHCC có tiên lượng xấu (bao gồm bệnh nhân có chức năng gan kém hơn, điểm ECOG PS thấp hơn hoặc xâm lấn mạch máu tiến triển hơn những bệnh nhân thường được đưa vào các nghiên cứu lâm sàng về uHCC).
Nghiên cứu SIERRA gồm bệnh nhân uHCC đáp ứng một trong các tiêu chí: Child-Pugh (CP) điểm B7 hoặc B8, với ECOG PS 0–1 không có huyết khối thân chính tĩnh mạch cửa (PVT) (nhóm bệnh nhân CP B7/B8); CP điểm A với ECOG PS 2 không có huyết khối thân chính tĩnh mạch cửa PVT (nhóm ECOG PS 2); hoặc CP điểm A với ECOG PS 0–1, có bằng chứng PVT thân chính mạn tính (nhóm Vp4).Bệnh nhân được điều trị bằng T liều 300 mg kết hợp D liều 1.500 mg vào ngày 1, sau đó duy trì D đơn trị liều 1.500 mg mỗi 4 tuần.
Tiến sĩ Hong và nhóm nghiên cứu đã đánh giá tỷ lệ các biến cố bất lợi (AE) mức độ 3-4 có liên quan đến điều trị (PRAE) trong vòng 6 tháng từ khi bắt đầu phác đồ STRIDE tính đến ngày 27 tháng 9 năm 2024.
Tổng cộng có 47 bệnh nhân người châu Á mắc uHCC (tuổi trung vị 70,0) được điều trị phác đồ STRIDE. Thời gian trung vị theo dõi tính an toàn trên nhóm CP B7/B8 (n=16) là 3,6 tháng, nhóm ECOG PS 2 (n=25) là 7,5 tháng, nhóm Vp4 (n=6) là 5,4 tháng, và trên tất cả bệnh nhân là 6 tháng. [ESMO Asia 2025, abstract 273MO]
Các bệnh nhân châu Á bao gồm 29 người đến từ Hàn Quốc, 7 người từ Nhật Bản, 4 người từ Singapore, 4 người từ Hồng Kông và 3 người từ Việt Nam.
Hồ sơ an toàn
Sau 6 tháng sử dụng phác đồ STRIDE, tỷ lệ chung gặp PRAE mức độ 3-4 là 25,5% (khoảng tin cậy [CI] 95%: 13,9–40,3). 93,6% bệnh nhân có báo cáo AE bất kỳ, và 23,4% bệnh nhân xảy ra các AE nghiêm trọng.
PRAE thường gặp nhất là ngứa (23,4%), tiếp theo là tăng aspartate aminotransferase (12,8%) và phát ban dạng sẩn-mảng (12,8%). Không may là cả ba AE này đều khiến bệnh nhân phải ngừng điều trị, trong đó có một trường hợp dẫn đến tử vong.
Tiến sĩ Hong cho rằng “Kết quả sơ bộ từ nghiên cứu SIERRA cho thấy bệnh nhân uHCC thu nhận tại châu Á và được điều trị bằng phác đồ STRIDE gặp các tác dụng phụ ở mức có thể kiểm soát được và tương tự như nhóm dân số toàn cầu”.
Tiến sĩ cũng cho biết “Hiện vẫn còn quá sớm để đánh giá tỷ lệ bệnh nhân giảm kích thước hoặc số lượng khối u sau điều trị theo phân tích này”.
Dựa trên phân tích toàn bộ hồ sơ an toàn trên 98 bệnh nhân uHCC, AE có tỷ lệ thấp và ở mức có thể kiểm soát được tại thời điểm đóng dữ liệu. Trong 6 tháng sau khởi trị phác đồ STRIDE, ghi nhận PRAE độ 3–4 xảy ra ở 19 bệnh nhân (19,4%; CI 95%: 12,1–28,6), tỷ lệ này được đánh giá là thấp.
Tiến sĩ Hong cho biết “Trước đây, bệnh nhân có tiên lượng xấu như vậy thường bị loại khỏi các nghiên cứu lâm sàng HCC nhằm tránh sự không đồng nhất giữa các đối tượng nghiên cứu. Thiếu dữ liệu từ các nghiên cưu lâm sàng tiến cứu khiến cho việc đưa ra các khuyến nghị điều trị cho nhóm bệnh nhân này gặp khó khăn”.
Trong nghiên cứu SIERRA, bệnh nhân được điều trị bằng phác đồ STRIDE cho đến khi khối u tiến triển, xảy ra tác dụng phụ buộc phải ngưng điều trị, tự nguyện rút khỏi nghiên cứu hoặc tử vong.