Hoạt động thể lực nhiều hơn ở trung niên và tuổi già giúp giảm nguy cơ sa sút trí tuệ

21 Jan 2026
Hoạt động thể lực nhiều hơn ở trung niên và tuổi già giúp giảm nguy cơ sa sút trí tuệ
Theo một nghiên cứu đoàn hệ, mức độ hoạt động thể lực cao hơn ở giai đoạn trung niên và tuổi già, nhưng không phải ở giai đoạn đầu tuổi trưởng thành, có liên quan với nguy cơ thấp hơn của sa sút trí tuệ do mọi nguyên nhân và sa sút trí tuệ Alzheimer (AD).

Các tác giả nhận định: “Hoạt động thể lực có tác dụng bảo vệ chống lại sa sút trí tuệ. Tuy nhiên, chưa rõ hoạt động thể lực ở thời điểm nào trong cuộc đời người trưởng thành có liên quan mạnh nhất với nguy cơ sa sút trí tuệ”.

Để xác định liệu mức độ hoạt động thể lực cao hơn ở giai đoạn sớm của tuổi trưởng thành, trung niên hay tuổi già có liên quan với nguy cơ thấp hơn về sa sút trí tuệ do mọi nguyên nhân hoặc AD hay không, các nhà nghiên cứu đã thực hiện một nghiên cứu đoàn hệ tiến cứu sử dụng dữ liệu từ đoàn hệ gốc Framingham Heart Study Offspring. Mức độ hoạt động thể lực được chia theo ngũ phân vị (Q), từ thấp nhất (Q1; nhóm tham chiếu) đến cao nhất (Q5). [JAMA Netw Open 2025;8:e2544439]

Tổng cộng 1.526 người tham gia là con của những người trong nghiên cứu Framingham Heart, không sa sút trí tuệ và có dữ liệu về hoạt động thể lực tại thời điểm ban đầu. Người tham gia được chia thành ba nhóm: đầu tuổi trưởng thành (26–44 tuổi; trung bình 36,7 tuổi; nữ 53,8%), trung niên (45–64 tuổi; trung bình 54,0 tuổi; nữ 52,0%) và tuổi già (65–88 tuổi; trung bình 71,0 tuổi; nữ 53,4%). Thời gian theo dõi trung bình lần lượt là 37,2 năm, 25,9 năm và 14,5 năm; để ghi nhận ca mắc mới sa sút trí tuệ do mọi nguyên nhân hoặc do AD.

Sa sút trí tuệ do mọi nguyên nhân và sa sút trí tuệ Alzheimer

Có tổng cộng 567 trường hợp sa sút trí tuệ do mọi nguyên nhân: 62 ca ở nhóm đầu tuổi trưởng thành (4%), 273 ca ở nhóm trung niên (14%) và 232 ca ở nhóm tuổi già (26%).

So với mức hoạt động thể lực thấp (Q1), hoạt động thể lực cao hơn ở cả trung niên và tuổi già có liên quan với nguy cơ thấp hơn của sa sút trí tuệ do mọi nguyên nhân (trung niên Q4: tỷ số nguy cơ [HR] 0,60; khoảng tin cậy [CI] 95%: 0,41–0,89; trung niên Q5: HR 0,59; CI 95%: 0,40–0,88; tuổi già Q4: HR 0,64; CI 95%: 0,42–1,00; tuổi già Q5: HR 0,55; CI 95%: 0,35–0,87). Tuy nhiên, không ghi nhận mối liên quan giữa hoạt động thể lực ở đầu tuổi trưởng thành và nguy cơ sa sút trí tuệ do mọi nguyên nhân.

Có 35 ca AD mắc mới trong nhóm đầu tuổi trưởng thành, 178 ca ở nhóm trung niên và 156 ca ở nhóm tuổi già. So với Q1, mức hoạt động thể lực Q5 có liên quan với nguy cơ thấp hơn của sa sút trí tuệ AD ở cả trung niên (HR 0,55; CI 95%: 0,33–0,94) và tuổi già (HR 0,53; CI 95%: 0,29–0,95).

Các tác giả viết: “Những phát hiện này cho thấy thúc đẩy hoạt động thể lực vào đúng giai đoạn trung niên hoặc tuổi già có thể giúp trì hoãn hoặc ngăn ngừa sa sút trí tuệ”.

Tình trạng mang alen APOE ε4

Đáng chú ý, lợi ích của hoạt động thể lực ở trung niên và tuổi già khác nhau tùy theo tình trạng mang alen APOE ε4.

Ở những người không mang APOE ε4, mức hoạt động thể lực cao hơn ở trung niên và tuổi già có liên quan với nguy cơ thấp hơn của cả sa sút trí tuệ do mọi nguyên nhân và AD.

Ở người mang APOE ε4, chỉ hoạt động thể lực ở mức Q5 trong giai đoạn tuổi già có liên quan với giảm nguy cơ sa sút trí tuệ do mọi nguyên nhân; trong khi không có mức hoạt động thể lực nào liên quan đến giảm nguy cơ sa sút trí tuệ do AD so với Q1.