Theo một nghiên cứu, ở phụ nữ trẻ mang biến thể gen gây bệnh
BRCA1 hoặc
BRCA2, khởi trị liệu pháp thay thế hormone sau phẫu thuật mãn kinh không làm tăng đáng kể nguy cơ ung thư vú; trong đó, liệu pháp estrogen đơn thuần còn mang lại tác dụng bảo vệ.
Trong một phân tích tiến cứu có đối chứng, 12,9% người tham gia điều trị liệu pháp hormone mãn kinh (MHT) mắc ung thư vú trong thời gian theo dõi trung bình 6,6 năm, so với 18,9 % người không điều trị MHT trong thời gian theo dõi trung bình 4,6 năm. Tỷ lệ mắc ung thư vú tích lũy trong 15 năm lần lượt là 24,5% ở nhóm MHT và 42,9% ở nhóm đối chứng. [
J Natl Cancer Inst 2025;doi:10.1093/jnci/djaf363]
Sử dụng liệu pháp MHT bất kỳ giúp giảm 52% nguy cơ ung thư vú so với nhóm không sử dụng (tỷ số nguy cơ [HR] = 0,48; khoảng tin cậy [CI] 95% 0,36–0,63; p<0,0001). Liệu pháp estrogen đơn thuần cho thấy mức giảm nguy cơ nhiều hơn (HR=0,37; CI 95% 0,24–0,57; p<0,0001).
Không có sự khác biệt đáng kể về nguy cơ ung thư vú khi sử dụng liệu pháp kết hợp estrogen–progestogen (HR = 0,94; CI 95% 0,54–1,63; p=0,82), progestogen đơn trị (HR=1,14; CI 95%:0,21–6,22; p=0,88), hoặc tibolone đơn trị (HR = 0,57; CI 95% 0,19–1,69; p=0,31).
Trong khi đó, việc kết hợp estrogen liên hợp từ ngựa và bazedoxifene cho thấy tiềm năng bảo vệ, khi không ghi nhận trường hợp nào hình thành ung thư vú trong số 43 người sử dụng suốt thời gian theo dõi trung bình 6,2 năm.
Phân tích phân tầng
Phân tích theo các loại đột biến gen
BRCA cho thấy kết quả tương tự. So với nhóm không dùng, việc sử dụng MHT giúp giảm 50% nguy cơ ung thư vú ở người mang đột biến
BRCA1 ([HR=0,50; CI 95% 0,37–0,66; p<0,0001) và giảm 65% nguy cơ ở người mang đột biến BRCA2 (HR=0,35; CI 95%: 0,15–0,82; p=0,02).
Ở những người sử dụng liệu pháp estrogen đơn thuần, nguy cơ ung thư vú giảm đáng kể khi dùng estradiol qua da (HR = 0,46; CI 95% 0,25–0,82; p=0,008). Tuy nhiên, không có sự khác biệt khi dùng estradiol đường uống (p = 0,29), estrogen liên hợp từ ngựa đường uống (p = 0,19), và estrogen tổng hợp đường uống (p = 0,27), do cỡ mẫu nhỏ.
Dữ liệu củng cố tính an toàn
TS. Joanne Kotsopoulos từ Đại học Toronto, Ontario, Canada cho biết: “Nghiên cứu này cung cấp bằng chứng cho hồ sơ an toàn của liệu pháp MHT chứa estrogen trong việc kiểm soát triệu chứng sau phẫu thuật cắt buồng trứng".
TS. Kotsopoulos bổ sung: “Tác dụng bảo vệ khỏi nguy cơ ung thư vú của liệu pháp estrogen đơn thuần gợi ý việc cắt bỏ tử cung có thể được xem xét thực hiện đồng thời với việc cắt bỏ buồng trứng. Nhờ đó, phụ nữ có thể tận dụng lợi ích tiềm năng của estrogen không đối kháng."
Với tỷ lệ sử dụng liệu pháp MHT còn thấp trong nhóm nghiên cứu (chỉ 37% số người đủ điều kiện), tác giả hy vọng dữ liệu này có thể thúc đẩy việc sử dụng MHT ở phụ nữ trải qua phẫu thuật mãn kinh sớm. “Những phụ nữ trẻ này không cần phải chịu đựng các rối loạn về thể chất, tâm lý và cảm xúc do mãn kinh đột ngột, do các thông tin sai lệch về hồ sơ an toàn của liệu pháp estrogen”.
Mô tả nghiên cứu
Nghiên cứu gồm 676 phụ nữ (tuổi trung bình 43,8), trong đó 548 người mang đột biến
BRCA1 và 128 người mang đột biến
BRCA2, được phân vào nhóm sử dụng MHT hoặc nhóm đối chứng. Người tham gia được lựa chọn phù hợp dựa trên loại đột biến gen (
BRCA1 hoặc
BRCA2), năm sinh, tuổi lúc bắt đầu nghiên cứu, tuổi mãn kinh, tình trạng cắt buồng trứng và tuổi khi cắt buồng trứng.
Trong cả hai nhóm, 94,8% phụ nữ đã được cắt buồng trứng hai bên (tuổi trung bình tại thời điểm phẫu thuật là 44 tuổi), và hơn 80% đã từng sinh con. Tỷ lệ phụ nữ đã trải qua phẫu thuật cắt bỏ vú dự phòng ở nhóm sử dụng MHT thấp hơn nhóm chứng (18,6% so với 28,7%; p<0,0001). Thời gian sử dụng MHT trung bình là 5,7 năm, và 9,2% phụ nữ trong nhóm đối chứng khởi trị MHT sau ≥1 năm được đưa vào nghiên cứu.
TS. Kotsopoulos thừa nhận một số hạn chế của nghiên cứu, bao gồm quy mô phân tầng cỡ mẫu nhỏ và thiếu dữ liệu về thụ thể khối u. Tác giả kêu gọi tiến hành các nghiên cứu bổ sung nhằm kiểm chứng lại những phát hiện này trên nhóm phụ nữ có nguy cơ cao.