Theo nghiên cứu pha III MajesTEC-3, liệu pháp phối hợp kháng thể đặc hiệu kép teclistamab và kháng thể đơn dòng daratumumab giúp cải thiện đáng kể về sống không tiến triển bệnh (PFS) cũng như sống còn chung (OS) cho bệnh nhân đa u tủy xương đã dùng đến ba phác đồ điều trị trước đó.
So với phác đồ ba thuốc (daratumumab và dexamethasone, với pomalidomide [DPd] hoặc bortezomib [DVd]) theo chọn lựa của nghiên cứu viên, liệu pháp miễn dịch phối hợp này làm giảm 83% nguy cơ tiến triển bệnh hoặc tử vong (trung vị PFS, chưa đạt tới so với 18,1 tháng; tỷ số nguy cơ [HR] 0,17, khoảng tin cậy [CI] 95% 0,12-0,23, p<0,001) trong thời gian theo dõi trung vị 34,5 tháng. (
N Engl J Med 2025; doi:10.1056/NEJMoa2514663)
Tiến sĩ María-Victoria Mateos từ Đại học Salamanca, Tây Ban Nha cho biết 83,4% bệnh nhân nhánh teclistamab–daratumumab duy trì tình trạng không tiến triển bệnh sau 3 năm (CI 95%: 78,2–87,4), cũng là tỷ lệ cao nhất cho tới nay trong các nghiên cứu về đa u tủy xương tái phát – trái ngược với chỉ có 29,7% (CI 95%: 23,6–36,0) ở nhánh bệnh nhân dùng DPd/DVd.
OS cũng cao hơn ở nhóm điều trị với liệu pháp miễn dịch phối hợp. Nhóm bệnh nhân nhánh teclistamab–daratumumab có giảm 54% nguy cơ tử vong so với nhánh DPd/DVd (HR 0,46; CI 95%: 0,32–0,65; p<0,0001). Tỷ lệ OS 36-tháng ước tính lần lượt là 83,3% và 65%.
Mateos mô tả hiệu quả của liệu pháp teclistamab kết hợp với daratumumab là “chưa từng có”. Đường cong biểu diễn PFS và OS ở trạng thái ổn định sau 6 tháng điều trị, “gợi ý tiềm năng chữa khỏi về chức năng”.
Tác dụng hiệp đồng
Theo Mateos, cả hai thuốc teclistamab và daratumumab đều được phê duyệt trong điều trị đa u tủy, có tác dụng hiệp đồng với nhau.
Mateos giải thích “teclistamab là một kháng thể đặc hiệu kép nhắm vào CD3 trên bề mặt tế bào T và kháng nguyên tế bào B trưởng thành trên tế bào u tủy xương và tế bào B. Trong khi đó, daratumumab khởi động và kích hoạt các tế bào T và vi môi trường trong u tạo điều kiện cho tác động của teclistamab thông qua cơ chế điều hòa miễn dịch, từ đó loại bỏ nhanh chóng các tế bào đa u tủy xương”.
Hơn thế nữa, liệu pháp teclistamab với daratumumab là một phối hợp không cần dùng steroid sau ngày thứ 8 của chu kỳ đầu tiên, và “điều này vô cùng quan trọng từ góc độ bệnh nhân”.
Ngoài tiêu chí chính PFS và tiêu chí phụ OS, liệu pháp miễn dịch phối hợp cho thấy hiệu quả tốt hơn so với phác đồ ba thuốc thông qua các chỉ số về hiệu quả khác. Mateos đã ghi nhận mức độ đáp ứng sâu hơn khi sử dụng phối hợp teclistamab và daratumumab.
Tỷ lệ cao hơn đáng kể về số bệnh nhân đạt đáp ứng hoàn toàn hoặc tốt hơn ở nhánh teclistamab–daratumumab so với nhánh DPd/DVd (81,8%, so với 32,1%, tỷ số nguy cơ [RR] 2,55; CI 95% 2,14–3,03). Hơn một nửa (58,4%) số bệnh nhân điều trị liệu pháp phối hợp miễn dịch có kết quả âm tính với bệnh tồn dư tối thiểu (minimal residual disease), trái ngược với chỉ 17,1% bệnh nhân sử dụng phác đồ 3 thuốc (RR 3,43; CI 95% 2,58–4,55). Chưa xác định được thời gian trung vị của đáp ứng ở nhánh teclistamab –daratumumab so với 23,5 tháng ở nhánh DPd/DVd.
Hồ sơ an toàn
Các biến cố bất lợi nghiêm trọng xảy ra ở 70,7% bệnh nhân nhánh teclistamab–daratumumab và ở 62,4% bệnh nhân trong nhánh DPd/DVd. Tử vong giảm hơn khoảng 50% ở liệu pháp miễn dịch phối hợp so với DPd/DVd (15,9% so với 33,1%). Ngoài ra, tỷ lệ ngừng thuốc do AE đều thấp ở cả hai nhánh (4,5% và 5,5% lần lượt).
Đáng chú ý, Mateos đã ghi nhận tới 71% bệnh nhân duy trì phối hợp teclistamab-daratumumab tại thời điểm phân tích. Thời gian điều trị trung vị là 32,4 tháng với teclistamab-daratumumab và 16,1 tháng với DPd/DVd.
Hội chứng giải phóng cytokine xảy ra ở 60,1% bệnh nhân nhánh teclistamab–daratumumab (độ 1 chiếm 44,2%, độ 2 chiếm 15,9%). Tỷ lệ thấp mắc hội chứng độc thần kinh liên quan đến tế bào miễn dịch, với chỉ 1,1%.
AE liên quan đến huyết học thường gặp nhất là giảm bạch cầu trung tính mọi mức độ, ghi nhận ở 78,4% bệnh nhân nhánh teclistamab–daratumumab và 82,8% bệnh nhân nhánh DPd/DVd. Một số AE ngoài huyết học thường gặp nhất (như nhiễm trùng độ 3–4, nhiễm COVID-19 và nhiễm trùng đường hô hấp trên) xảy ra ở 54,1% và 43,4% bệnh nhân trong hai nhánh tương ứng.
Mateos ghi nhận tỷ lệ nhiễm trùng cao hơn nhiều ở nhánh teclistamab–daratumumab trong 6 tháng đầu, sau đó giảm dần theo thời gian và trở nên tương đương với nhánh DPd/DVd. Giải thích cho sự gia tăng nhiễm trùng ở giai đoạn đầu với trị liệu phối hợp miễn dịch, nghiên cứu viên cho biết nghiên cứu MajesTEC-3 được triển khai trước lúc teclistamab được phê duyệt, khi đó quy trình xử lý hoặc dự phòng nhiễm trùng vẫn chưa được thiết lập.
Mateos cho biết thêm “Đề cương nghiên cứu đã được điều chỉnh bổ sung sau đó, đồng thời được củng cố rằng nghiên cứu viên nên áp dụng các liệu pháp thay thế immunoglobulin và kháng sinh dự phòng”.
Nghiên cứu MajesTEC-3
Phân tích bao gồm 587 bệnh nhân đa u tủy xương (tuổi trung vị 64; 55,4% là nam giới; 65,4% là người da trắng) đã trải qua số bước điều trị trung vị là 2. Những bệnh nhân này được xếp ngẫu nhiên vào nhánh teclistamab–daratumumab (n=291) hoặc nhánh DPd/DVd (n=296).
Ở nhánh liệu pháp miễn dịch phối hợp, bệnh nhân được tiêm dưới da teclistamab trong các chu kỳ 28 ngày, với liều 1,5 mg/kg thể trọng mỗi tuần trong chu kỳ 1, theo sau hai lần tăng dần liều 0,06 và 0,3 mg/kg); 1,5 mg/kg/tuần ở chu kỳ 2; 3 mg/kg mỗi 2 tuần trong các chu kỳ 3–6; và 3 mg/kg/4 tuần từ chu kỳ 7 trở đi.
Mateos cho biết lịch dùng teclistamab đồng bộ với lịch dùng daratumumab đã được phê duyệt nhằm tăng tính thuận tiện về liều dùng. Bệnh nhân cần được điều trị trước với dexamethasone, acetaminophen và diphenhydramine trong 2 tuần đầu.
Bệnh nhân ở nhánh DPd/DVd được điều trị theo các phác đồ chuẩn đã thiết lập.
Cả hai nhánh duy trì điều trị đến khi sự tiến triển bệnh được xác định, tử vong, tác dụng phụ không thể chấp nhận, hoặc tự rút khỏi nghiên cứu.
Theo Mateos, nhìn chung các phát hiện từ nghiên cứu MajesTEC-3 đem lại một liệu pháp tiêu chuẩn mới cho bước điều trị thứ hai trở đi trong bệnh đa u tủy xương tái phát hoặc kháng trị.
“Đặc điểm về hội chứng giải phóng cytokine và khả năng phối hợp teclistamab với daratumumab theo lịch phê duyệt của daratumumab cho thấy tiềm năng ứng dụng rộng rãi trong thực hành lâm sàng”.