Một nghiên cứu gần đây cho thấy, nồng độ cao của matrix metalloprotease 7 (MMP7) trước điều trị dự đoán sự tiến triển và tử vong trong 12 tháng ở những bệnh nhân
bệnh xơ phổi vô căn (IPF) đã được điều trị bằng thuốc chống xơ hóa.
Ở bệnh nhân tiến triển và ổn định đều cho thấy nồng độ MMP7 tăng sau 12 tháng, nhưng bệnh nhân tiến triển luôn có nồng độ MMP7 cao hơn bệnh nhân ổn định tại mọi thời điểm.
Các nhà nghiên cứu cho biết “ngoài ra, chúng tôi chứng minh rằng các mức độ của MMP7 liên quan đến tiến triển và tử vong, do đó đưa dấu ấn sinh học này đến gần với ứng dụng lâm sàng”.
Nghiên cứu bao gồm 98 bệnh nhân từ cơ sở dữ liệu Đăng ký bệnh xơ phổi vô căn của Úc. Huyết thanh được thu thập từ những người tham gia tại 4 thời điểm trong 1 năm sau khi bắt đầu điều trị bằng thuốc chống xơ hóa và được phân tích thành 2 nhóm riêng biệt. Mười phân tử quan tâm được đánh giá bằng xét nghiệm miễn dịch hấp thụ liên kết enzyme hoặc ELISA.
Nhóm nghiên cứu phân tầng bệnh nhân thành nhóm ổn định hoặc nhóm tiến triển nếu họ bị suy giảm ≥10% dung tích sống gắng sức (FVC) hoặc ≥15% khả năng khuếch tán carbon monoxide (DLCO) hoặc tử vong trong vòng 1 năm kể từ khi bắt đầu điều trị.
Yếu tố dự đoán
Tại thời điểm ban đầu, nồng độ MMP7 cao hơn ở nhóm tiến triển so với nhóm ổn định trong cả hai nhóm nghiên cứu (nhóm 1: p=0,02; nhóm 2: p=0,0002). Tương tự, nồng độ MMP7 cũng là yếu tố phân biệt tốt nhất giữa nhóm tiến triển và nhóm ổn định (nhóm 1: diện tích dưới đường cong (AUC) 0,74; p=0,02; nhóm 2: AUC 0,81; p=0,0003). [
Respirology 2025;30:504-514]
Trong phân tích hồi quy gộp, nồng độ MMP7 tăng có liên quan đáng kể đến sự tiến triển bệnh sau 12 tháng (tỷ số chênh 1,530; p=0,010) và nguy cơ tử vong chung cao hơn (tỷ số nguy cơ 1,268; p=0,002).
Ngoài ra, hồi quy LASSO đã xác định được một bảng đa dấu ấn sinh học (MMP7, phân tử kết dính nội bào 1 [ICAM-1], protein giống chitinase-3 số 1 [CHI3L1], và mucin 16 [CA125]) phân biệt tình trạng tiến triển chính xác hơn so với sử dụng MMP7 đơn lẻ.
Hơn nữa, việc kết hợp giới tính, tuổi, sinh lý học (GAP) với MMP7, ICAM-1, ligand chemokine motif C-C 18 (CCL18), và protein hoạt diện D (SP-D) cho thấy khả năng dự đoán tử vong trong 3 năm tốt hơn so với sử dụng GAP đơn lẻ.
Các nhà nghiên cứu cho biết, “MMP7 cùng với bảng đa dấu ấn sinh học và GAP có thể dự đoán tiến triển và tử vong của IPF, với tiềm năng tối ưu hóa việc quản lý bệnh”.
Tài liệu
Những phát hiện này phù hợp với các nghiên cứu trước đây đã tìm thấy mối liên quan nghịch theo thời gian (longitudinal) giữa MMP7 và FVC. Mối liên quan này cho thấy tiềm năng của MMP7 như một yếu tố dự đoán sự suy giảm của IPF. [
ERJ Open Research 2017;3:00074-2016;
Respirology 2017;22:486-493]
Tuy nhiên, theo các nhà nghiên cứu, những nghiên cứu này đã thực hiện trên những bệnh nhân chưa từng điều trị và thiếu dữ liệu theo thời gian. Một nghiên cứu trước đó có bao gồm bệnh nhân IPF điều trị bằng thuốc chống xơ hóa cũng cho thấy nồng độ MMP7 cao hơn dự đoán tiên lượng sống kém hơn. [
Chest 202;158:1526-1534]
Các nghiên cứu khác về dấu ấn sinh học để hướng dẫn điều trị chưa cho thấy tính hữu ích. Cần có thêm nghiên cứu để xác định tính ứng dụng lâm sàng của MMP7, theo các nhà nghiên cứu. [
Lancet Respiratory Medicine 2019;7:771-779]
Các nhà nghiên cứu cho biết, “nghiên cứu của chúng tôi ủng hộ việc sử dụng nồng độ MMP7 huyết thanh ban đầu và các lần đo tiếp theo như một dấu hiệu dự đoán tiến triển IPF trên những bệnh nhân điều trị bằng thuốc chống xơ hóa và xác định CA125 như một dấu ấn tiềm năng cho tình trạng ổn định”.
Họ bổ sung, “cần có những nghiên cứu lớn hơn để xác định cách MMP7 và CA125 có thể được sử dụng để hỗ trợ quyết định lâm sàng”.