Mô hình mới trong chẩn đoán và điều trị béo phì: Nhìn xa hơn BMI, điều trị theo mục tiêu nhằm giảm biến chứng

21 Jan 2026
Mô hình mới trong chẩn đoán và điều trị béo phì: Nhìn xa hơn BMI, điều trị theo mục tiêu nhằm giảm biến chứng
Theo TS. Samantha Hocking (Đại học Sydney, Úc) trình bày tại Hội nghị Nội tiết – Đái tháo đường – Chuyển hóa Hong Kong lần thứ 8 (EDM HK 2025), chẩn đoán béo phì không nên chỉ dựa vào BMI mà cần bao gồm cả đánh giá tình trạng thừa mỡ, rối loạn chức năng cơ quan, hạn chế hoạt động hằng ngày và các bệnh lý liên quan. Nên áp dụng cách tiếp cận “điều trị theo mục tiêu” nhằm đạt hiệu quả thay đổi diễn tiến bệnh và giảm biến chứng liên quan đến béo phì.

Không chỉ dựa vào BMI

TS. Hocking cho biết: “Sự khác biệt về ngưỡng BMI giữa các hệ thống quốc tế và châu Á cho thấy BMI có nhiều hạn chế khi dùng đơn độc để xác định béo phì”.

TS. nói thêm “Mặc dù hữu ích, nhưng phân loại dựa trên BMI không phản ánh phân bố mỡ trong cơ thể, giai đoạn bệnh hay các biến chứng. Vòng eo tăng có liên quan đến nguy cơ bệnh tim mạch và tử vong cao hơn, bất kể BMI.” [Lancet Diabetes Endocrinol 2025;13:221-262; Int J Obes (Lond) 2009;33:289-295; CMAJ 2011;183:E1059-E1066; BMJ 1984;288:1401-1404]

Tiêu chí chẩn đoán mới

Do các phương pháp dựa vào BMI hiện nay có thể ước tính thừa hoặc thiếu tình trạng thừa mỡ và không cung cấp đầy đủ thông tin sức khỏe cá nhân, Ủy ban Lancet Diabetes & Endocrinology đề xuất cách tiếp cận 3 bước để chẩn đoán. Đồng thuận khuyến cáo này cũng phân biệt một cách thực tiễn giữa béo phì tiền lâm sàng (thừa mỡ kèm các mức độ nguy cơ nhưng chưa có bệnh đang diễn tiến) và béo phì lâm sàng (một bệnh mạn tính do béo phì đơn thuần, đặc trưng bời các dấu hiệu và triệu chứng của rối loạn chức năng cơ quan đang diễn tiến và/hoặc giảm khả năng sinh hoạt hằng ngày), giúp nhận diện bệnh nhân với các nhu cầu và mức độ chăm sóc khẩn cấp khác nhau. [Lancet Diabetes Endocrinol 2025;13:221-262]

Bước 1 trong quá trình chẩn đoán là xác nhận tình trạng thừa mỡ bằng ≥1 phép đo kích thước cơ thể (như vòng eo, tỷ lệ eo-hông, hoặc tỷ lệ eo-chiều cao) kết hợp với BMI; hoặc ≥2 phép đo kích thước cơ thể bất kể BMI bao nhiêu; hoặc đo trực tiếp lượng mỡ (ví dụ scan DEXA). TS. Hocking phát biểu: “Tôi ưu tiên tỷ lệ eo-chiều cao vì đơn giản và không cần điều chỉnh theo chủng tộc. Có thể xem là thừa mỡ nếu BMI >40 kg/m² mà không cần xác định thêm.”

Bước 2 bao gồm khai thác bệnh sử, khám lâm sàng và xét nghiệm máu thường quy để phát hiện dấu hiệu/triệu chứng của rối loạn chức năng cơ quan hoặc tình trạng hạn chế hoạt động thường ngày ở người thừa mỡ. Béo phì tiền lâm sàng có đặc trưng là chức năng cơ quan và các tổ chức còn bảo tồn; trong khi béo phì lâm sàng đã có hạn chế hoạt động thường ngày và/hoặc dấu hiệu /triệu chứng rối loạn chức năng cơ quan liên quan béo phì.

TS. Hocking cho biết: “Bước 3 là đánh giá các bệnh lý liên quan béo phì và mức độ hạn chế. Ủy ban Lancet liệt kê 18 tình trạng bệnh quy trực tiếp cho tình trạng thừa mỡ, liên quan đến thần kinh trung ương, hô hấp, tim mạch, sinh sản, tiết niệu, cơ-xương-khớp, hệ bạch huyết, cũng như chuyển hóa, gan và thận. Béo phì là gốc rễ của hầu hết các bệnh mạn tính mà con người phải nếm trải hiện nay”.

TS. Hocking cho biết thêm: “Hơn hết, chúng ta không được bỏ sót các biến chứng tâm lý khi sống chung với béo phì. Kỳ thị béo phì vẫn rất phổ biến trong xã hội và hệ thống y tế. Béo phì và trầm cảm có mối liên hệ hai chiều.”

Điều trị theo mục tiêu để giảm biến chứng

TS. Hocking cho biết: “Giảm 16% cân nặng giúp giảm nhiều hơn mỡ nội tạng và mỡ trong gan, lần lượt là 30% và 65%”. [Diabetes Spectrum 2020;33:117-124]

TS. Hocking nhấn mạnh: “Có mối liên hệ ‘đáp ứng theo liều’ giữa mức giảm cân và biến chứng liên quan béo phì. Trong khi giảm 3–5% cân nặng cải thiện độ nhạy insulin và ngăn tiến triển từ tiền ĐTĐ sang ĐTĐ; thì giảm ≥10–15% cân nặng mới đạt thuyên giảm đái tháo đường. Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của điều trị theo mục tiêu để giảm biến chứng. [Lancet 2022;399:394-405; J Clin Endol Metab 2022;107:e1339-e1347]

Khó khăn trong việc duy trì giảm cân bắt nguồn từ cơ chế sinh lý nền tảng: Giảm cân dẫn đến những thay đổi về nồng độ các hormone điều hòa cảm giác đói và no. Những biến đổi này được ghi nhận là vẫn tồn tại sau 1 năm kể từ khi đạt được giảm cân ban đầu. [Obes Rev 2020;21:e12949; N Engl J Med 2011;365:1597-1604]

TS. Hocking chỉ ra rằng “Đó là lí do chúng ta cần liệu pháp dùng thuốc để đạt các mục tiêu giảm cân”

GLP-1 RA và GIP/GLP-1 RA trong điều trị béo phì

Semaglutide (một chất đồng vận thụ thể glucagon-like peptide-1 [GLP-1]; liều 2,4 mg mỗi tuần) cho thấy mức giảm cân trung bình 14,9% sau 68 tuần khi sử dụng phối hợp với can thiệp về lối sống, từ thử nghiệm lâm sàng pha 3 then chốt, mù đôi, ngẫu nhiên có đối chứng trên người thừa cân/béo phì. Một phần ba số bệnh nhân dùng semaglutide đạt mức giảm cân ≥20%. [N Engl J Med 2021;384:989–1002]

Tirzepatide (một chất đồng vận kép glucose-dependent insulinotropic polypeptide [GIP] và GLP-1 RA; liều 5, 10 hoặc 15 mg mỗi tuần), cho thấy mức giảm cân trung bình 15–20,9 % sau 72 tuần khi sử dụng phối hợp với can thiệp lối sống, trong thử nghiệm lâm sàng pha 3 then chốt, mù đôi, ngẫu nhiên có đối chứng trên người thừa cân/béo phì. Gần 40% bệnh nhân dùng tirzepatide 15 mg mỗi tuần đạt mức giảm cân ≥25%. [N Engl J Med 2022;387:205–216]

TS. Hocking nhận định: “Hiệu quả giảm cân là rất ấn tượng. Đặt kết quả này vào trong bối cảnh lâm sàng, mức giảm cân sau 1 năm phẫu thuật giảm cân là khoảng 25–30%.”

Cả hai thử nghiệm cũng cho thấy cải thiện các chỉ số sức khỏe tim mạch-chuyển hóa và chức năng thể chất với semaglutide và tirzepatide. Hocking cho biết: “Với mức giảm cân nhiều hơn ghi nhận ở tirzepatide, chúng tôi quan sát thấy sự cải thiện tốt hơn ở các chỉ số sức khỏe này”.

Trong một thử nghiệm lâm sàng pha 3b, nhãn mở, ngẫu nhiên có đối chứng ở bệnh nhân béo phì, tirzepatide (liều dung nạp tối đa [MTD) 10 hoặc 15 mg) cho thấy cân nặng trung bình giảm nhiều hơn so với semaglutide (MTD 1,7 hoặc 2,4 mg) sau 72 tuần (20,2% so với 13,7%; p<0,001). Tỷ lệ bệnh nhân đạt mức giảm cân ≥20% hoặc ≥25% cũng cao hơn ở nhóm tirzepatide so với semaglutide (lần lượt là 48,4% so với 27,3% và 31,6% so với 16,1%). [N Engl J Med 2025;393:26–36]

TS. Hocking cho biết: “Cải thiện nhiều hơn ở các yếu tố nguy cơ tim mạch-chuyển hóa quan trọng cũng được ghi nhận với tirzepatide so với semaglutide. Các yếu tố này bao gồm huyết áp, đường huyết, insulin lúc đói và nồng độ lipid.

Lựa chọn thuốc: các cân nhắc về thực hành

TS. Hocking cho rằng: “Bên cạnh dữ liệu từ thử nghiệm lâm sàng, cần xét đến sự ưa chuộng của bệnh nhân và chi phí khi lựa chọn thuốc cho bệnh béo phì”.

TS. giải thích: “Tham vấn phải bao gồm số lần tiêm hàng tuần, tác dụng phụ có thể gặp, sự cần thiết của điều trị dài hạn và nguy cơ tăng cân trở lại sau ngừng thuốc”.

TS. nói thêm: “Hiện không có một loại nào thuộc nhóm thuốc mới này được chi trả bởi chính phủ nước chúng tôi. Điều này có thể liên quan đến sự kỳ thị bệnh béo phì trong hệ thống y tế. Vận động chính sách về các kết cục sức khỏe quan trọng của những loại thuốc này là cần thiết để liệu pháp được hỗ trợ chi phí có thể tiếp cận đến những bệnh nhân cần nhất.”.

TS. Hocking nhấn mạnh: “Mặc dù thuốc có thể giúp tạo đà và duy trì giảm cân, nhưng chúng không thay thế cho việc thay đổi lối sống. Thuốc có vai trò bổ trợ cho các can thiệp này. Thuốc giúp người bệnh gắn bó với các mục tiêu sức khỏe của họ; và vì vậy cần được sử dụng kết hợp với tham vấn về chế độ ăn và luyện tập”.