Phối hợp bộ đôi nổi lên như một giải pháp đáp ứng thách thức trong điều trị bước 1 ung thư vú tam âm di căn (mTNBC)

09 Jan 2026
Phối hợp bộ đôi nổi lên như một giải pháp đáp ứng thách thức trong điều trị bước 1 ung thư vú tam âm di căn (mTNBC)
Trong phân tích ban đầu của nghiên cứu ASCENT-04/KEYNOTE-D19, phác đồ phối hợp sacituzumab govitecan (SG) và pembrolizumab mang lại lợi ích đáng kể về sống không bệnh tiến triển (PFS) ở bệnh nhân ung thư vú tam âm (TNBC) tiến triển có PD-L1+ chưa điều trị trước đó.

BS. Sara Tolaney từ Viện Ung thư Dana-Farber và Trường Y Harvard, Boston, Massachusetts, Hoa Kỳ, đã cho biết trong bài trình bày tại ASCO 2025: “ASCENT-04 là nghiên cứu phân nhóm ngẫu nhiên pha III đầu tiên đánh giá hiệu quả và tính an toàn của một phức hợp thuốc - kháng thể (ADC) phối hợp với một thuốc ức chế điểm kiểm soát miễn dịch (ICI) để điều trị bước 1 (1L) cho bệnh nhân TNBC di căn (mTNBC) có PD-L1+.”

Sau trung vị thời gian theo dõi 14 tháng, tiêu chí chính PFS theo đánh giá của trung tâm độc lập được làm mù (BICR) đã cải thiện đáng kể về mặt thống kê và lâm sàng ở nhóm SG+pembrolizumab so với hóa trị+pembrolizumab (trung vị 11,2 tháng so với 7,8 tháng; tỷ số nguy cơ [HR] 0,65; p<0,001), giảm 35% nguy cơ tiến triển bệnh hoặc tử vong. [ASCO 2025, abstract LBA109]

BS. Tolaney cho biết “đường cong Kaplan-Meier bắt đầu phân tách sớm và tiếp tục mở rộng theo thời gian, với lợi ích được thấy ở các thời điểm quan trọng.” Gần 1/2 số bệnh nhân ở nhóm dùng thuốc nghiên cứu không tiến triển hoặc tử vong ở thời điểm 12 tháng, so với chỉ 1/3 ở nhóm hóa trị.

PFS theo BICR tương đồng với kết quả được quan sát từ đánh giá của nghiên cứu viên (trung vị 11,3 tháng so với 8,3 tháng; HR 0,67; p=0,002).

Lợi ích của SG+pembrolizumab cũng được ghi nhận ở các phân nhóm đã định trước, ngoại trừ phân nhóm bệnh nhân đã điều trị ICI trước đó. BS. Tolaney lưu ý “Tuy nhiên, tôi sẽ diễn giải điều này một cách thận trọng, vì chỉ có 20 bệnh nhân trong phân nhóm này, nên khoảng tin cậy rất rộng và khó rút ra bất kỳ kết luận chắc chắn nào.”

Dữ liệu về sống còn toàn bộ (OS) chưa đủ để đánh giá (tỷ lệ ghi nhận so với dự kiến là 26%). Tuy nhiên, xu hướng ban đầu cho thấy ưu thế của nhóm phối hợp được thử nghiệm so với nhóm hóa trị+pembrolizumab (HR 0,89). Đáng chú ý, 81% bệnh nhân nhận bất kỳ điều trị tiếp theo nào sau khi ngừng hóa trị+pembrolizumab đã được điều trị với SG.

So với hóa trị+pembrolizumab, SG+pembrolizumab có tỷ lệ cao hơn về đáp ứng khách quan (60% so với 53%; tỷ số chênh đã phân tầng là 1,3), cũng như đáp ứng hoàn toàn (13% so với 8%). Quan trọng là trung vị thời gian đáp ứng dài hơn rõ rệt ở nhóm SG+pembrolizumab so với nhóm hóa trị+pembrolizumab (16,5 tháng so với 9,2 tháng).

Mặc dù trung vị thời gian điều trị với phác đồ nghiên cứu dài hơn so với phác đồ dựa trên hóa trị (~9 tháng so với ~6 tháng), tỷ lệ các tác dụng ngoại ý (AE) độ 3/4 tương tự nhau giữa 2 nhóm (71% so với 70%). Nhóm SG+pembrolizumab ghi nhận có nhiều AE phát sinh trong quá trình điều trị (TEAE) ở mức nghiêm trọng liên quan đến thuốc điều trị so với nhóm đối chứng (28% so với 19%), nhưng ít TEAE khiến ngừng điều trị (12% so với 31%) và giảm liều (35% so với 44%). Quan trọng là TEAE liên quan đến thuốc điều trị gây tử vong thấp (1% ở mỗi nhóm).

Các độc tính ≥ độ 3 thường gặp nhất liên quan đến SG+pembrolizumab bao gồm giảm bạch cầu (43%), tiêu chảy (10%) và mệt mỏi (8%). Nhìn chung, các AE được ghi nhận phù hợp với các hồ sơ độc tính đã biết của từng thuốc được dùng, gợi ý không có độc tính cộng thêm nào.

Về các AE được quan tâm đặc biệt, tỷ lệ tiêu chảy ≥ độ 3 của phối hợp được nghiên cứu là 10%, phù hợp với kết quả đã báo cáo trong các thử nghiệm trước đó về SG. Không có sự gia tăng tỷ lệ độc tính liên quan đến miễn dịch với phác đồ phối hợp được nghiên cứu.

BS. Tolaney cho biết, “[Tóm lại,] những dữ liệu này hỗ trợ việc sử dụng SG+pembrolizumab như điều trị chuẩn L1 mới đầy tiềm năng cho bệnh nhân mTNBC có PD-L1+ chưa từng điều trị trước đó.”

Một nhu cầu nghiêm trọng chưa được đáp ứng

BS. Tolaney lưu ý, TNBC là một trong những phân nhóm ung thư vú (BC) xâm lấn, chiếm khoảng 15%. Khoảng 40% các TNBC có PD-L1+. Trung vị PFS đã được báo cáo trước đây với hóa trị+ICI cho mTNBC có PD-L1+ trong điều trị 1L dao động từ 7 đến 9 tháng. BS. Tolaney cho biết, thật không may, khoảng một nửa số bệnh nhân khởi trị mTNBC không thể tiếp tục điều trị bước hai (2L) do sức khỏe suy giảm, bệnh tiến triển, hoặc tử vong.

Do đó, theo BS. Tolaney, “Các liệu pháp tốt hơn trong điều trị 1L cho bệnh nhân mTNBC có PD-L1+ là nhu cầu chưa được đáp ứng.”

Chuyên gia phản biện, BS. Sonya Reid từ Trung tâm Ung thư Vanderbilt, Nashville, Tennessee, Hoa Kỳ, đồng tình với ý kiến của BS. Tolaney. “Mặc dù có những tiến bộ đáng kể trong điều trị BC, TNBC vẫn là nhu cầu lâm sàng chưa được đáp ứng đáng kể nhất. Trong thực tế, 34% bệnh nhân tử vong trước khi nhận được các liệu pháp điều trị 2L. Chúng ta thực sự cần suy nghĩ về việc cần có thuốc tốt hơn ở bước đầu cho bệnh nhân.”

Phối hợp các ADC và ICI

BS. Tolaney lưu ý, SG là ADC nhắm vào TROP-2 duy nhất đã cho thấy cải thiện cả PFS và OS so với hóa trị trong bệnh lý tam âm đã được điều trị trước đó. Thuốc hiện đã được phê duyệt như một lựa chọn điều trị bước 2 và sau đó cho mTNBC và BC di căn có HR+/HER2- đã điều trị trước đó ở một số quốc gia. “Có rất nhiều sự quan tâm đến việc thử phối hợp ADC với ICI dựa trên các dữ liệu tiền lâm sàng và lâm sàng vững chắc cho sự phối hợp này.”

Trong ASCENT-04, 443 phụ nữ (trung vị 54 tuổi) đã được phân nhóm ngẫu nhiên theo tỷ lệ 1:1 để điều trị với SG IV 10 mg/kg (ngày 1 và 8)+pembrolizumab 200 mg (ngày 1) hoặc hóa trị theo lựa chọn của nhà lâm sàng+pembrolizumab trong các chu kỳ 21 ngày. Các tùy chọn hóa trị bao gồm paclitaxel 90 mg/m2, nabpaclitaxel 100 mg/m2, hoặc gemcitabine 1.000 mg/m2 cộng carboplatin AUC 2 (GC). Những bệnh nhân trong nhóm hóa trị có thể chuyển sang điều trị 2L bằng SG.

34% người tham gia có bệnh mới phát sinh, 18% tái phát trong vòng 6–12 tháng, và 48% tái phát sau >12 tháng hoàn thành liệu pháp điều trị toàn thân ở giai đoạn sớm. Các vị trí di căn chính là hạch bạch huyết (70%), tiếp theo là phổi (46%), gan (25%), và xương (24%).

Khoảng một nửa số bệnh nhân trong nhóm hóa trị nhận taxane; nửa kia nhận GC. 5% bệnh nhân đã nhận ICI trước đó trong điều trị giai đoạn sớm.

Sử dụng SG sớm hơn

BS. Reid lưu ý, “ASCENT-04 hỗ trợ tiềm năng sử dụng sớm SG trong phối hợp với pembrolizumab ở điều trị 1L cho mTNBC có PD-L1+. Tuy nhiên, [chúng ta có thể] cần đưa điều đó vào bối cảnh hiện tại, khi chúng ta đang gia tăng sử dụng pembrolizumab để (tân) bổ trợ với ý định chữa khỏi cho bệnh nhân.”

Theo BS. Reid, “[Chúng ta cũng] cần nghĩ về dữ liệu OS để hiểu liệu việc sử dụng sớm SG có lợi ích về OS hay không,” Bà đề xuất nghiên cứu thêm để xác định tính an toàn và hiệu quả của thứ tự dùng ADC.
Từ viết tắt tiếng Anh: 1L - first-line; 2L - second-line; ADC - antibody drug conjugate; AE - adverse event; BC - breast cancer; BICR - blinded independent central review; GC - gemcitabine plus carboplatin; HR - hazard ratio; ICI - immune checkpoint inhibitor; mTNBC - metastatic triple negative breast cancer; OS - overall survival; PFS - progression free survival; SG - sacituzumab govitecan; TEAE - treatment emergent adverse event; TNBC - triple negative breast cancer

Nguồn: MIMS. Two-drug combo rises to the challenge as 1L Tx for mTNBC. https://www.mims.com/vietnam/news-updates/topic/two-drug-combo-rises-to-the-challenge-as-1l-tx-for-mtnbc. Accessed 18-Jul-2025.