Kết quả chính của nghiên cứu pha III ROSELLA cho thấy, việc phối hợp relacorilant, thuốc đối kháng chọn lọc thụ thể glucocorticoid thế hệ đầu tiên, với nab-paclitaxel giúp cải thiện các kết cục sống còn ở bệnh nhân ung thư buồng trứng kháng platin.
BS. Alexander Olawaiye - Trường Y, Đại học Pittsburgh, Pittsburgh, Philadelphia, Hoa Kỳ đã báo cáo, sau trung vị thời gian theo dõi 9,0 tháng, trung vị sống không bệnh tiến triển (PFS) được đánh giá ở trung tâm độc lập được làm mù (BICR) đã tăng từ 5,52 tháng với đơn trị nab-paclitaxel lên 6,54 tháng khi thêm relacorilant, tương ứng với giảm 30% nguy cơ (tỷ số nguy cơ [HR] 0,70; khoảng tin cậy [CI] 95% 0,54–0,91; p=0,0076). Kết quả này nhất quán với PFS được đánh giá bởi nghiên cứu viên (HR 0,71; p=0,0030). [ASCO 2025, abstract LBA5507]
Về sống còn toàn bộ (OS), BS. Olawaiye cho biết, mặc dù dữ liệu chưa đầy đủ tại thời điểm thu thập dữ liệu, nhóm phối hợp có thời gian OS kéo dài đáng kể về mặt lâm sàng so với nhóm đơn trị nab-paclitaxel (trung vị 15,97 tháng so với 11,50 tháng), giảm 31% nguy cơ tiến triển hoặc tử vong (HR 0,69; CI 95% 0,52–0,92; p=0,0121).
Ở thời điểm 12 tháng, tỷ lệ PFS là 25% ở nhóm phối hợp và 13% ở nhóm nab-paclitaxel. Tỷ lệ OS 12 tháng ở hai nhóm lần lượt là 60% và 49%.
Theo BS. Olawaiye, các điểm ước tính của PFS và OS đều ủng hộ nhóm phối hợp ở hầu hết các phân nhóm được phân tích. “Điều này đặc biệt rõ ở các phân nhóm có tiên lượng nguy cơ cao, bao gồm những bệnh nhân đã trải qua ba bước điều trị, những người đã từng điều trị với thuốc ức chế PARP, những người có khoảng thời gian điều trị không có platin ban đầu ngắn, và những người có gánh nặng bệnh tật cao.”
Ông bổ sung, hơn nữa, phối hợp relacorilant với nab-paclitaxel có liên quan đến cải thiện 6,8% tỷ lệ đáp ứng khách quan (36,9% so với 30,1%; p=0,17) và 12,2% tỷ lệ có lợi ích lâm sàng (đáp ứng hoặc ổn định bệnh suốt 24 tuần) (51,1% so với 38,9%; p=0,016). “Đây là phát hiện bất ngờ mà chúng tôi không dự đoán trước.”
Về tính an toàn, phối hợp relacorilant và nab-paclitaxel được dung nạp tốt, với hồ sơ an toàn thuận lợi. Tác dụng ngoại ý (AE) ≥ độ 3 xảy ra ở 74,5% bệnh nhân nhóm phối hợp và 59,5% bệnh nhân nhóm đơn trị nab-paclitaxel, trong khi các AE nghiêm trọng được ghi nhận ở 35,1% bệnh nhân nhóm phối hợp và 23,7% bệnh nhân nhóm đơn trị. Ngưng nab-paclitaxel do AE trong quá trình điều trị là không thường xuyên và tương tự nhau giữa hai nhóm (9,0% và 7,9%, theo thứ tự tương ứng).
Các AE thường gặp nhất là giảm bạch cầu trung tính, thiếu máu, mệt mỏi, buồn nôn, tiêu chảy, và rụng tóc. Cụ thể, tỷ lệ bệnh nhân giảm bạch cầu trung tính và thiếu máu ≥ độ 3 xảy ra ở nhóm phối hợp lần lượt là 44% và 18%, và ở nhóm đơn trị nab-paclitaxel lần lượt là 25% và 8%.
BS. Olawaiye cho biết, “rõ ràng, [tần suất các AE về huyết học] có vẻ tệ hơn ở nhóm relacorilant, nhưng cần nhớ rằng các bệnh nhân này đã dùng nab-paclitaxel lâu hơn vì họ đáp ứng tốt hơn” so với nhóm chỉ dùng nab-paclitaxel (thời gian trung bình là 23,2 tuần so với 18,6 tuần). “Khi chúng tôi điều chỉnh theo thời gian điều trị nab-paclitaxel, tỷ lệ giảm bạch cầu trung tính và thiếu máu ở hai nhóm nghiên cứu là tương đương nhau.”
Cuối cùng, không ghi nhận AE liên quan đến relacorilant gây tử vong.
Tổng hợp lại, theo BS. Olawaiye, những kết quả này cho thấy “dùng gián đoạn relacorilant phối hợp với nab-paclitaxel là một phác đồ điều trị hiệu quả cho bệnh nhân ung thư buồng trứng kháng platin, mà không cần chỉ dấu sinh học.”
Ung thư buồng trứng thường biểu hiện thụ thể glucocorticoid (GR), một chỉ dấu liên quan đến tiên lượng xấu. Nhà nghiên cứu giải thích nguyên nhân là do tín hiệu GR có thể làn giảm độ nhạy của tế bào ung thư với hóa trị độc tế bào. Relacorilant khắc phục điều này bằng cách phục hồi độ nhạy của khối u với hóa trị độc tế bào.
Ông kết luận, “chúng tôi tin rằng phối hợp relacorilant và nab-paclitaxel là tiêu chuẩn mới cho điều trị ung thư buồng trứng kháng platin.”
Các lựa chọn điều trị mới nổi
Trong khi đó, phản biện nghiên cứu, BS. Debra Richardson - Trung tâm Ung thư Stephenson, Đại học Oklahoma, Thành phố Oklahoma, Oklahoma, Hoa Kỳ, chỉ ra rằng phối hợp relacorilant và nab-paclitaxel là một “lựa chọn điều trị mới” cho ung thư buồng trứng kháng platin, đồng thời lưu ý một phác đồ điều trị hiệu quả khác.
Cụ thể, BS. Richardson cho biết, trong nghiên cứu pha III KEYNOTE-B96, phối hợp pembrolizumab và paclitaxel, có hoặc không có bevacizumab, đã giúp kéo dài tiêu chí chính PFS ở bệnh nhân ung thư buồng trứng tái phát kháng platin có khối u biểu hiện PD-L1 và ở toàn bộ đối tượng bệnh nhân, cũng như tiêu chí phụ OS ở nhóm bệnh nhân có khối u biểu hiện PD-L1,
Trước những phát triển này, bà đặt ra một số câu hỏi về lựa chọn và thứ tự điều trị: “Nếu bệnh nhân đã từng điều trị với bevacizumab trước đó, bạn sẽ chọn phối hợp paclitaxel hàng tuần và bevacizumab hay phối hợp nab-paclitaxel hàng tuần và relacorilant sau khi dữ liệu được trình bày? Giờ đây có thể có hai phác đồ mang lại lợi ích OS, bạn sẽ sắp xếp thứ tự thế nào nếu bệnh nhân đủ điều kiện cho cả hai? Và nếu có nhiều lựa chọn cho các liên kết kháng thể – thuốc, như dự kiến, đâu là cách tốt nhất để sắp xếp chúng?”
Nghiên cứu ROSELLA
Được thực hiện tại 117 cơ sở ở nhiều quốc gia, ROSELLA gồm 381 bệnh nhân ung thư biểu mô buồng trứng, ung thư phúc mạc nguyên phát, hoặc ung thư ống dẫn trứng kháng platin; đã điều trị chống ung thư trước đó đến 3 bước và đã từng dùng bevacizumab; và có bệnh tiến triển hoặc không dung nạp với liệu pháp điều trị gần nhất.
Bệnh nhân được phân nhóm ngẫu nhiên để điều trị với relacorilant (uống 150 mg vào trước, cùng, và sau ngày truyền nab-paclitaxel) phối hợp với nab-paclitaxel (80 mg/m² đường tĩnh mạch vào các ngày 1, 8 và 15 của mỗi chu kỳ 28 ngày) (n=188) hoặc đơn trị nab-paclitaxel (100 mg/m² đường tĩnh mạch với liệu trình tương tự) (n=193).
Trung vị tuổi của bệnh nhân là 61 tuổi ở nhóm phối hợp và 62 tuổi ở nhóm nab-paclitaxel, với đa số bệnh nhân là người da trắng (72,3% và 69,9%, theo thứ tự tương ứng). Tổng cộng có 35,6% bệnh nhân ở nhóm phối hợp và 42,5% bệnh nhân ở nhóm nab-paclitaxel đã nhận ít nhất một bước điều trị kháng platin.
Hai tiêu chí chính là PFS và OS, và nghiên cứu được xem là thành công nếu đạt được bất kỳ tiêu chí nào trong hai tiêu chí này.