Phòng khám đa chuyên khoa giúp cải thiện đường vào mạch máu và kết quả điều trị ở bệnh nhân chạy thận nhân tạo

25 Dec 2025
Phòng khám đa chuyên khoa giúp cải thiện đường vào mạch máu và kết quả điều trị ở bệnh nhân chạy thận nhân tạo
Theo một nghiên cứu tại Singapore, việc áp dụng mô hình chăm sóc đa chuyên khoa cho bệnh nhân chạy thận nhân tạo giúp tăng đáng kể tỷ lệ sử dụng đường vào mạch máu dài hạn và giảm số trường hợp phải nhập khoa hồi sức tích cực (ICU) và số lần tái nhập viện.

Nhóm nghiên cứu cho biết: “Sự chăm sóc toàn diện và phối hợp của các phòng khám đa chuyên khoa (multidisciplinary clinic, MDC), bao gồm can thiệp sớm, theo dõi liên tục, giáo dục bệnh nhân và hỗ trợ toàn diện, giúp xử lý hiệu quả hơn những phức tạp trong đìiều trị chạy thận nhân tạo so với mô hình chăm sóc truyền thống chỉ có một bác sĩ khoa thận.”

Nghiên cứu đoàn hệ hồi cứu đơn trung tâm gồm 145 bệnh nhân mới bắt đầu chạy thận nhân tạo được đánh giá trong thời gian theo dõi 12 tháng.Kết cục chính là đường vào mạch máu dài hạn cho chạy thận nhân tạo; các kết cục phụ gồm tỷ lệ nhiễm trùng máu liên quan ống thông tĩnh mạch, nhập ICU, và tái nhập viện.

Đường vào mạch máu dài hạn được định nghĩa là việc sử dụng cấu nối động–tĩnh mạch tự thân (AVF) hoặc cầu nối động–tĩnh mạch ghép nhân tạo (AVG) cho ít nhất ba buổi chạy thận nhân tạo.

Trong số các bệnh nhân được phân tích, 53 người thuộc nhóm MDC và 92 người thuộc nhóm chăm sóc thông thường. [Proc Singap Healthc 2025; doi:10.1177/20101058251314524]

Chỉ 10% bệnh nhân bắt đầu chạy thận nhân tạo với đường vào mạch máu dài hạn, nhưng nhóm MDC có tỷ lệ sử dụng đường vào mạch máu dài hạn cao hơn sau 6 tháng** (tỷ số chênh OR 2,44; khoảng tin cậy (KTC) 95%: 1,16–5,26; p=0,039).

Ngoài ra, nhóm MDC có ít trường hợp nhập ICU hơn (OR 0,92; KTC 95%: 0,87–0,97; p=0,026) và ít tái nhập viện hơn (OR 0,13; KTC 95%: 0,04–0,49; p=0,001). Tỷ lệ nhiễm trùng liên quan ống thông cũng thấp hơn so với nhóm thông thường (5,6% so với 14%), nhưng sự khác biệt không đạt ý nghĩa thống kê (OR 0,34; KTC 95%: 0,47–18,46; p=0,709).

Nhóm tác giả nhận định: “Tỷ lệ nhiễm trùng huyết liên quan ống thông thấp hơn ở nhóm MDC - dù chưa có ý nghĩa thống kê - vẫn đáng để thăm dò thêm. Thiếu ý nghĩa thống kê có thể chủ yếu do cỡ mẫu nhỏ, làm giảm khả năng phát hiện khác biệt có ý nghĩa.”

Quá trình liên tục

Các nghiên cứu trước đây đã phân tích ảnh hưởng của mô hình phòng khám đa chuyên khoa đối với tử vong và bệnh ở bệnh nhân chạy thận, nhưng chủ yếu tập trung vào giai đoạn khởi đầu hoặc chăm sóc sau chạy thận nhân tạo. [Nephron 2015;129:263-268; Nephrol Dial Transplant 2017;32(suppl_2):ii91-ii98]

Nhóm nghiên cứu giải thích: “Tuy nhiên, điều trị chạy thận nhân tạo là một quá trình liên tục, trải dài từ giai đoạn trước chạy thận đến sau chạy thận. Nghiên cứu thí điểm này đã đánh giá hiệu quả của chăm sóc toàn diện cung cấp bởi mô hình MDC trong suốt hành trình chạy thận nhân tạo.” [Am J Kidney Dis 2017;69:8-10]

Chương trình MDC được khởi động một năm trước khi bệnh nhân bắt đầu chạy thận nhân tạo, tại phòng khám suy thận giai đoạn cuối (mức lọc cầu thận thấp), và tiếp tục qua phòng khám chăm sóc chuyển tiếp đến 1 tháng sau khi khởi đầu chạy thận nhân tạo. Bệnh nhân chọn chạy thận nhân tạo được theo dõi mỗi 2–3 tháng trước khi bắt đầu, và đánh giá lại sau 1 tháng chạy thận. Mục tiêu chính là kịp thời tạo đường vào mạch máu dài hạn.

“Tại phòng khám suy thận giai đoạn cuối, bệnh nhân được tham gia chương trình giáo dục của Quỹ Thận Quốc gia Singapore (NKF) có tên ‘Hiểu Đúng, Khởi đầu Đúng’ (‘Know Right Start Right’), nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tạo đường vào mạch máu dài hạn (AVF/AVG) cho những người chọn chạy thận nhân tạo,” nhóm nghiên cứu cho biết. [https://nkfs.org/kidney-failure/pre-dialysis-education-programme-faqs/](https://nkfs.org/kidney-failure/pre-dialysis-education-programme-faqs/)]

“Cách tiếp cận này chỉ ra mức độ quan trọng của đường vào mạch máu hoạt động tốt trước khi bắt đầu chạy thận, bảo đãm quá trình chuyển tiếp sang chạy thận được thuận lợi và có tổ chức” họ kết luận.