Một nghiên cứu hồi cứu kéo dài 25 năm cho thấy liệu pháp sắt truyền tĩnh mạch (IV) ở những bệnh nhân nội trú
thiếu máu thiếu sắt và nhiễm trùng cấp có liên quan đến nguy cơ tử vong thấp hơn.
Phân tích ghép cặp theo điểm xu hướng ở các bệnh nhân mắc nhiều tình trạng nhiễm khuẩn khác nhau, bao gồm nhiễm khuẩn huyết do
Staphylococcus aureus kháng methicillin (MRSA), viêm phổi, và
nhiễm trùng đường tiết niệu (UTI), cho thấy sắt IV liên quan đến giảm 44%-52% nguy cơ tử vong ngắn hạn và giảm 27%-40% nguy cơ tử vong dài hạn. [ASH 2025, abstract 5]
Bác sĩ Haris Sohail từ Trung tâm Y khoa Charleston Area, West Virginia, trình bày tại ASH 2025 cho biết kết quả này thách thức quan niệm cho rằng sắt IV làm trầm trọng kết cục trong nhiễm trùng cấp bằng cách nuôi dưỡng vi khuẩn. Ông phát biểu trong buổi họp báo: “Nhiều bệnh nhân đã không được điều trị trong những thời điểm quan trọng khi cơ thể của họ cần sắt IV nhất, và cho đến nay, chưa có nghiên cứu quy mô lớn nào ủng hộ hoặc bác bỏ những lo ngại này”. “Những quan niệm cũ có thể đang ngăn cản bệnh nhân của chúng ta nhận được phương pháp điều trị cứu sống”.
Tranh cãi trong bối cảnh nhiễm trùng
Bác sĩ Jacquelyn Powers của Trung tâm Huyết học Nhi khoa Texas ở Houston, Texas, Hoa Kỳ, đã giới thiệu nghiên cứu trong phiên toàn thể, cho biết sắt đóng vai trò quan trọng trong vô số quá trình tế bào. Tuy nhiên, vi chất thiết yếu bị hạn chế trong nhiễm trùng cấp, được cho là do hệ miễn dịch nhằm giảm sự có sẵn của các chất này đối với tác nhân gây bệnh.
Bác sĩ Jacquelyn cho biết “Sắt IV là vấn đề gây tranh cãi trong bối cảnh nhiễm trùng”, đồng thời lưu ý rằng các bác sĩ từ trước đến nay được đào tạo để tránh sử dụng nó. “Sắt cần thiết cho bệnh nhân để duy trì sức khỏe tối ưu, nhưng cũng thiết yếu cho vi khuẩn và vi rút trong tình trạng viêm”.
Quan niệm cũ bị thách thức
Bác sĩ Robert Sackstein từ Trường Y Harvard ở Boston, Massachusetts, Hoa Kỳ cho biết sự gia tăng ferritin trong nhiễm trùng là nhằm gắn kết sắt. Bác sĩ Robert nói với bác sĩ Sohail: “Đó là một phần của đáp ứng miễn dịch bẩm sinh để bảo vệ chống lại tác nhân gây bệnh. Do đó, dữ liệu của bạn đang khiến chúng ta phải xem xét lại lý thuyết hoặc nhận thức đó”.
Khi được hỏi tại sao nhận thức đó lại tồn tại suốt nhiều thập kỷ, bác sĩ Sohail trả lời rằng điều đó có thể dựa trên các nghiên cứu lý thuyết trong phòng thí nghiệm, trong đó các nghiên cứu “nhận thấy vi khuẩn ưa nước có nguy cơ phát triển cao hơn khi chúng ta bổ sung sắt”. Tuy nhiên, bác sĩ Sohail nói rằng trong bối cảnh nhiễm trùng, bệnh nhân đang được điều trị bằng kháng sinh.
Các nhà nghiên cứu đã phân tích dữ liệu từ Mạng lưới nghiên cứu TriNetX để xác định bệnh nhân nội trú
thiếu máu thiếu sắt và nhiễm trùng cấp từ 2002 đến 2024. Họ so sánh nhóm được điều trị bằng sắt IV trong 1 tuần kể từ thời điểm nhiễm trùng được xác định với nhóm không điều trị, được ghép cặp theo tuổi, giới tính, chủng tộc hoặc sắc tộc, bệnh đi kèm, hemoglobin, ferritin, và procalcitonin.
Phân tích bao gồm 16.866 bệnh nhân được chẩn đoán nhiễm khuẩn huyết MRSA (8.433 được điều trị sắt và 8.433 không được điều trị sắt), 38.562 bệnh nhân viêm phổi, 37.226 bệnh nhân UTI, 8.864 bệnh nhân viêm đại tràng, và 16.808 bệnh nhân viêm mô tế bào.
Ở tất cả các nhóm, khoảng 40% bệnh nhân mắc bệnh thận mạn. Suy tim là bệnh đồng mắc ở tới 40% bệnh nhân và trên 50% bệnh nhân trong nhóm viêm phổi. Hemoglobin trung bình ban đầu từ 9,1 đến 9,4.
Tại thời điểm 14 ngày sau khi xác định nhiễm trùng, kết cục sống giữa nhóm sử dụng sắt IV và nhóm không sử dụng IV như sau: nhiễm khuẩn huyết MRSA: 97,6% so với 95% (HR 0,48), viêm phổi: 95,7% so với 91,5% (HR 0,50), UTI: 97,6% so với 95,7% (HR 0,56), viêm đại tràng: 97,6% so với 95,5% (HR 0,52), và viêm mô tế bào: 98,5% so với 97,4% (HR 0,55).
Sau 90 ngày, kết cục sống như sau: nhiễm khuẩn huyết MRSA: 88,6% so với 83,8% (HR 0,67), viêm phổi: 84,7% so với 78,1% (HR 0,66), UTI: 89,1% so với 85,6% (HR 0,73), viêm đại tràng: 89,7% so với 83,8% (HR 0,60), và viêm mô tế bào: 92,2% so với 89,2% (HR 0,70).
Bệnh nhân được điều trị với sắt IV ít phải truyền hồng cầu hơn và có sự cải thiện hemoglobin tốt hơn sau 14 ngày và giai đoạn 60-90 ngày. Mức tăng hemoglobin luôn vượt quá 1,2 g/dL ở bệnh nhân được điều trị với sắt IV so với 0,7 g/dL đến 1 g/dL ở bệnh nhân không được điều trị bằng sắt.
Thời gian nằm viện tương tự nhau ở tất cả các nhóm, ngoài trừ nhiễm khuẩn huyết MRSA và UTI, các nhóm này có thời gian dài hơn một chút đối với những người điều trị bằng sắt IV (lần lượt là (+0,1 và +0,3 ngày).