Thuốc cũ, công dụng mới: Tái định vị pitavastatin trong điều trị u nguyên bào thần kinh đệm

14 Jan 2026
Thuốc cũ, công dụng mới: Tái định vị pitavastatin trong điều trị u nguyên bào thần kinh đệm
Hạt mang cấu trúc nano dạng lipid (NLCs) vận chuyển pitavastatin cho thấy tiềm năng trong điều trị u nguyên bào thần kinh đệm (GB) qua một nghiên cứu hệ thống thực hiện trong điều kiện phòng thí nghiệm.

Một nghiên cứu phát triển, in vitro đã tìm ra ứng dụng mới của một loại thuốc cũ, liên quan đến việc thiết kế hạt nano lipid chứa pitavastatin (PTNLCs) theo quan điểm 'làm đúng ngay từ lần đầu' trong thiết kế chất lượng, và so sánh tác dụng gây độc tế bào của sản phẩm với NLCs rỗng (blankNLCs), temozolomide và pitavastatin không có màng bao trên các dòng tế bào GB trong điều kiện in vitro. [Colloids Surf B Biointerfaces 2025;245:114253]

GB là dạng ung thư não ác tính nguyên phát phổ biến và gây tử vong cao nhất. Phẫu thuật cắt bỏ khối u, sau đó phối hợp đồng thời xạ trị - hóa trị bổ trợ bằng temozolomide là phương pháp tiếp cận lâm sàng tiêu chuẩn trong nhiều năm. Tuy nhiên, tỷ lệ sống sót sau 2 năm chỉ đạt 26,5% với phương pháp tiếp cận tiêu chuẩn này (so với 10,4% khi xạ trị đơn thuần), và sau 5 năm tỷ lệ sống sót chỉ còn 6,9%. [N Engl J Med 2005;352:987-996]

Bản chất xâm lấn mạnh mẽ của GB (bao gồm kiểu tăng trưởng lan tỏa và xâm lấn, tính không đồng nhất của khối u, sự phát triển kháng thuốc đối với xạ trị và các liệu pháp alkyl hóa), và hàng rào máu não (BBB) hạn chế sự xâm nhập của thuốc là hai yếu tố chính hạn chế hiệu quả của các liệu pháp tiêu chuẩn. [Int J Pharm 2017;531:372-388]

Tái định vị các thuốc được phê duyệt trước đó và phát triển hệ thống mang thuốc mới là một phần của nỗ lực toàn cầu để tìm ra các chiến lược mới và tốt hơn để điều trị GB. Tái định vị thuốc phụ thuộc vào việc xác định các chỉ định điều trị mới cho các hợp chất đã được phê duyệt hoặc bị loại bỏ. Pitavastatin, một loại thuốc hạ LDL–cholesterol máu được kê đơn trên toàn cầu, đã cho thấy đa tác dụng (pleiotropic) bảo vệ thần kinh và chống viêm trong bệnh động kinh và thiếu máu não. Thuốc cũng cho thấy hoạt tính chống ung thư đầy hứa hẹn bằng cách tăng cường tự thực bào và ảnh hưởng đến sự tăng sinh tế bào in vitro và in vivo trong bệnh cảnh GB, tuy nhiên độ hòa tan trong nước thấp và tính thấm BBB bị giảm làm ảnh hưởng đến quá trình chuyển đổi vào trong thực hành lâm sàng thành công. [Cancer 2018;428:173-183; Prog Lipid Res 2021;84:101127; Br J Cancer 2014;111:1562-1571; J Transl Med 2014;12:1-13]

Để cải thiện khả năng vận chuyển thuốc qua BBB, các hạt nano lipid đã được tối ưu hóa làm chất mang cho thuốc ưa lipid (lipophilic). Các PTNLC được tối ưu hóa cho thấy kích thước và phân bố hạt giảm đồng thời tăng độ hòa tan biểu kiến của pitavastatin về tải lượng thuốc và duy trì tính ổn định keo theo thời gian. Các nghiên cứu về độc tính tế bào trên ba dòng tế bào GB tiếp tục cho thấy nồng độ micromol thấp của PTNLC đã giảm một cách hiệu quả khả năng sống sót của tế bào ở mức độ cao hơn so với các blankNLC, temozolomide và pitavastatin không màng bọc.

Theo các tác giả, việc phát triển NLC được xây dựng dựa trên phân tích rủi ro, sau khi thiết lập hồ sơ mục tiêu của sản phẩm, lưu ý đến chất lượng sản phẩm, hiệu quả chống ung thư và an toàn cho bệnh nhân. Việc lựa chọn tá dược được thực hiện sau nhiều phân tích, bao gồm độ hòa tan của thuốc trong lipid, khả năng tương thích lipid (vĩ mô và vi mô), mô hình phân tử và phân tích thành phần chính. PTNLC đã được tối ưu hóa bằng cách sử dụng thiết kế thử nghiệm tổng hợp trung tâm, với ảnh hưởng của tỷ lệ lipid rắn:lỏng, nồng độ chất hoạt động bề mặt và thời gian đồng hóa trên các đặc tính keo của chất mang được đặc trưng về mặt thống kê.

Các tác giả kết luận: “Kết quả thu được cho thấy hoạt tính chống GB mạnh mẽ ở nồng độ mà phương pháp điều trị tiêu chuẩn không có tác động, cũng như sự nhập bào nhanh chóng và rõ rệt các tế bào GB. Nhìn chung, công trình này định vị các hệ thống tiêm truyền ổn định dài hạn, phù hợp với giả thuyết về việc cung cấp nhiều hơn các liệu pháp thay thế hiệu quả trong bệnh lý GB.”