Tình trạng mệt mỏi ở bệnh nhân là dấu hiệu cảnh báo nguy cơ nhiễm độc từ điều trị ung thư

29 Jul 2026
Tình trạng mệt mỏi ở bệnh nhân là dấu hiệu cảnh báo nguy cơ nhiễm độc từ điều trị ung thư
Theo nghiên cứu mới, tình trạng mệt mỏi ở bệnh nhân được ghi nhận trước khi bắt đầu điều trị ung thư dường như liên quan đến nguy cơ gia tăng các biến cố bất lợi (AE) do điều trị sau đó.

Phân tích dữ liệu từ 17 nghiên cứu lâm sàng ngẫu nhiên trong Mạng lưới Nghiên cứu Ung thư SWOG Hoa Kỳ cho thấy những bệnh nhân báo cáo có mệt mỏi ở mức vừa phải trở lên có khả năng gặp độc tính nặng hoặc nghiêm trọng cao hơn gấp đôi so với bệnh nhân không mệt mỏi hoặc mệt mỏi nhẹ (tỷ số chênh [OR] 2,09; khoảng tin cậy [CI] 95% 1,58-2,78; p<0,001), độc tính đe dọa tính mạng hoặc gây tử vong (OR 1,96; CI 95% 1,36-2,82; p<0,001), và độc tính gây tử vong (OR 2,35; CI 95% 1,07-5,19; p=0,03). [JAMA Oncol 2025;doi:10.1001/jamaoncol.2025.5549]

Mỗi mức độ mệt mỏi tăng thêm có liên quan đến tăng 44% nguy cơ gặp độc tính nặng (OR 1,44; CI 95% 1,25-1,65; p<0,001), tăng 44% nguy cơ gặp độc tính đe dọa tính mạng (OR 1,44; CI 95% 1,20-1,73; p<0,001), và tăng 65% nguy cơ gặp độc tính gây tử vong (OR 1,65; CI 95% 1,17-2,34; p=0,005).

Mối liên quan giữa mệt mỏi do bệnh nhân báo cáo tại thời điểm ban đầu và độc tính liên quan điều trị ung thư tuân theo mô hình đáp ứng liều (dose-reponse). Tỷ lệ bệnh nhân gặp độc tính nặng hoặc nghiêm trọng tăng từ 34,2% ở nhóm bệnh nhân không mệt mỏi lên lần lượt là 39,4%; 52,8% và 58,3% ở nhóm bệnh nhân báo cáo mệt mỏi ít, vừa phải, hoặc khá nhiều/rất nhiều tại thời điểm ban đầu. Đáng chú ý, nguy cơ độc tính gây tử vong cao hơn khoảng 5 lần ở nhóm bệnh nhân mệt mỏi khá nhiều hoặc rất nhiều tại thời điểm ban đầu so với nhóm không mệt mỏi (OR 4,99, CI 95% 1,84-13,51; p=0,002).

Kết quả tương tự ghi nhận đối với cả AE triệu chứng và khách quan, nhất quán ở các nhóm AE triệu chứng, huyết học và ngoài huyết học. Các mối liên hệ này không bị thay đổi bởi biến số nhân khẩu – xã hội và thể trạng cơ thể. Tuy nhiên, xu hướng gia tăng độc tính theo mức độ mệt mỏi rõ rệt ở bệnh nhân giai đoạn tiến triển nhưng không ghi nhận ở bệnh nhân điều trị bổ trợ hoặc giai đoạn sớm.

Tác giả nhận định “Dù cơ sở sinh học là gì, tình trạng mệt mỏi do bệnh nhân tự báo cáo để dự đoán các hệ quả triệu chứng và khách quan trong tương lai của điều trị ung thư cho thấy mệt mỏi có thể là một dấu hiệu thực tiễn và hữu ích của quá trình bệnh lý tiềm ẩn đang tồn tại”.

Tác giả tiếp tục: “Những quá trình này có khả năng tiềm ẩn, chưa được phản ánh đầy đủ qua các thước đo khách quan tiêu chuẩn về tình trạng bệnh, như yếu tố và giai đoạn tiên lượng đặc hiệu, và có thể biểu hiện đồng thời bằng mệt mỏi cũng như tăng tính nhạy cảm với các phản ứng bất lợi của điều trị ung thư”.

Các tác giả nhấn mạnh tầm quan trọng của việc can thiệp nhằm giải quyết tình trạng mệt mỏi ở những bệnh nhân ung thư để giảm triệu chứng, và có thể giảm bất kỳ tác động trực tiếp nào lên độc tính điều trị. Can thiệp thể chất và tâm trí-cơ thể đã được chứng minh cải thiện mệt mỏi liên quan ung thư, có thể thông qua điều hòa tình trạng viêm, và được đưa vào hướng dẫn của Mạng lưới Ung thư toàn diện quốc gia và Hiệp hội Ung thư lâm sàng Hoa Kỳ. [J Clin Oncol 2024;42:2456-2487; https://www.nccn.org/professionals/physician_gls/pdf/fatigue.pdf; NPJ Digit Med 2025;8:29; J Natl Cancer Inst 2025;117:1984-1998]

Tác giả cho biết “Tuy nhiên, do mệt mỏi có thể đóng vai trò như một dấu hiệu của tình trạng dễ tổn thương sinh học, [can thiệp thể chất và tâm trí-cơ thể] khó có thể làm giảm hoàn toàn nguy cơ gia tăng các AE cấp tính nặng trong quá trình điều trị. Thay vào đó, việc nhận diện mệt mỏi có thể giúp bác sĩ xác định bệnh nhân có nguy cơ cao gặp độc tính điều trị và điều chỉnh kế hoạch chăm sóc phù hợp, đặc biệt ở những bệnh nhân có mức độ mệt mỏi cao trước điều trị”.

Nghiên cứu bao gồm 7.086 bệnh nhân (trung bình 62,1 tuổi; 70,3% là nam) mắc ung thư tiền liệt tuyến, phổi, đại trực tràng, lymphoma, vú, hắc tố, buồng trứng, hoặc tụy, với tổng cộng 103.738 AE được ghi nhận. Tại thời điểm ban đầu, có 39,1% bệnh nhân báo cáo mệt mỏi mức vừa phải trở lên, được phân theo thang Likert 5 mức.

AE được định nghĩa theo Tiêu chuẩn thuật ngữ chung về biến cố bất lợi (Common Terminology Criteria for Adverse Events). Kết quả chính là AE độ 3 trở lên (nặng), độ 4 trở lên (đe dọa tính mạng), và độ 5 (tử vong).
Từ viết tắt tiếng Anh: AE: adverse events; CI: confidence interval; OR: odds ratio.

Nguồn: MIMS. Patient fatigue flags risk of toxicity from cancer treatment. https://www.mims.com/vietnam/news-updates/topic/patient-fatigue-flags-risk-of-toxicity-from-cancer-treatment. Accessed 21-Jan-2026.