Giám sát
Đối với những bệnh nhân đã điều trị bằng các phương pháp bảo tồn khả năng sinh sản, tỷ lệ tái phát là 30-40%. Đáp ứng điều trị nên được đánh giá bằng D và C, soi tử cung và các hình ảnh học vào tháng thứ 6 sau khi hoàn thành liệu pháp. Nên khuyến khích thụ thai và tiếp tục theo dõi mỗi 6 tháng nếu có đáp ứng điều trị hoàn toàn vào tháng thứ 6 sau điều trị; cũng nên xem xét điều trị duy trì dựa trên progestin. Đối với những bệnh nhân mắc bệnh kéo dài do thất bại điều trị sau 6 tháng điều trị ban đầu, nên chụp MRI vùng chậu, đặc biệt đối với bệnh nhân xem xét các phác đồ bảo tồn khả năng sinh sản tiếp theo. Bệnh nhân đang điều trị dựa trên progestin nên được theo dõi mỗi 3-6 tháng, bằng D và C, sinh thiết nội mạc tử cung, soi tử cung và hình ảnh học. Nên đánh giá lại mỗi 6 tháng đối với những bệnh nhân không cắt bỏ tử cung. Thụ thể progesterone (PgR) có thể được sử dụng để tiên đoán sự thuyên giảm của bệnh. Những bệnh nhân có đáp ứng tốt với điều trị nên được giới thiệu đến các phòng khám chuyên khoa hỗ trợ sinh sản. Đối với những bệnh nhân đã điều trị bằng các phương pháp bảo tồn khả năng sinh sản, phẫu thuật cắt tử cung ngoài cân và cắt buồng trứng - vòi trứng hai bên kèm theo phân giai đoạn được khuyến cáo cho các trường hợp sau: sau khi sinh; có dấu hiệu bệnh tiến triển trên sinh thiết; và ung thư nội mạc tử cung kéo dài sau 6-12 tháng điều trị dựa trên progestin. Bệnh nhân giai đoạn III-IV theo FIGO đã chọn điều trị bằng các phương pháp không bảo tồn khả năng sinh sản nên được đánh giá lại bằng chụp CT ngực/bụng/ chậu mỗi 6 tháng trong 3 năm đầu sau điều trị và mỗi 6-12 tháng trong 2 năm tiếp theo. Các phương pháp chẩn đoán hình ảnh khác có thể được xem xét ở những bệnh nhân có khả năng bệnh tiến triển, thuyên tắc phổi lớn mới xuất hiện, hoặc có các triệu chứng mới xuất hiện ở vùng chậu, bụng hoặc phổi trong quá trình theo dõi.
Tiên lượng
Các yếu tố tiên lượng trong đánh giá ung thư nội mạc tử cung bao gồm: tuổi; giai đoạn theo Liên đoàn Sản phụ khoa Quốc tế (FIGO); độ sâu xâm lấn cơ tử cung; mức độ biệt hóa khối u; loại khối u; tình trạng thụ thể hormone; và xâm lấn khoang mạch bạch huyết (LVSI).
Biến chứng
Ung thư nội mạc tử cung tái phát
Các xét nghiệm chẩn đoán cần xem xét đối với ung thư nội mạc tử cung tái phát bao gồm: Chụp PET/CT toàn thân nếu xem xét phẫu thuật hoặc điều trị tại chỗ -tại vùng; chụp CT bụng/chậu/ngực phụ thuộc vào các triệu chứng của bệnh nhân và đánh giá PE; và chụp MRI vùng chậu có thể được xem xét ở những bệnh nhân từ chối phẫu thuật cắt bỏ tử cung.
Điều trị
Xạ trị có thể được cân nhắc ở những bệnh nhân tái phát tại chỗ ở âm đạo sau phẫu thuật. Xạ trị chiếu ngoài kèm hoặc không kèm xạ trị áp sát, kèm hoặc không kèm liệu pháp toàn thân được khuyến cáo cho những bệnh nhân không có tiền sử xạ trị. Nếu có tiền sử xạ trị áp sát, khuyến cáo cắt bỏ bằng phẫu thuật kèm thăm dò, kèm hoặc không kèm xạ trị trong mổ (IORT) hoặc xạ trị chùm tia ngoài kèm hoặc không kèm xạ trị áp sát và kèm hoặc không kèm liệu pháp toàn thân. Nếu đã được xạ trị chùm tia ngoài trước đó, có thể xem xét các phương pháp sau: cắt bỏ bằng phẫu thuật kèm thăm dò, kèm hoặc không kèm xạ trị trong mổ; liệu pháp toàn thân kèm hoặc không kèm xạ trị chiếu ngoài giảm nhẹ; và xạ trị áp sát âm đạo kèm hoặc không kèm liệu pháp toàn thân. Có thể cân nhắc tái xạ trị triệt để bằng xạ trị lập thể toàn thân (SBRT), cấy hạt phóng xạ vĩnh viễn hoặc liệu pháp proton nếu không thể điều trị phẫu thuật.
Xạ trị chiếu ngoài kèm hoặc không kèm liệu pháp toàn thân có thể được xem xét cho những bệnh nhân tái phát hạch chậu, hạch cạnh động mạch chủ hoặc hạch chậu chung có nguy cơ tái phát toàn thân cao. Liệu pháp toàn thân kèm hoặc không kèm xạ trị chiếu ngoài có thể được xem xét cho những bệnh nhân tái phát bệnh vùng bụng trên/phúc mạc và còn sót bệnh trên vi thể. Xạ trị chiếu ngoài kèm hoặc không kèm liệu pháp toàn thân, kèm hoặc không kèm xạ trị áp sát âm đạo có thể được xem xét cho những bệnh nhân có khối u khu trú ở âm đạo hoặc mô mềm quanh âm đạo. Phẫu thuật cắt bỏ và/hoặc xạ trị chiếu ngoài, hoặc liệu pháp triệt đốt hoặc liệu pháp toàn thân có thể được xem xét cho những bệnh nhân có di căn đơn độc.
Liệu pháp hormone kết hợp với liệu pháp toàn thân được khuyến cáo cho bệnh nhân di căn lan tỏa có độ ác tính thấp, không triệu chứng với HR dương tính. Liệu pháp toàn thân kèm hoặc không kèm liệu pháp giảm nhẹ được khuyến cáo cho bệnh nhân di căn lan tỏa có độ ác tính cao hoặc khối u có kích thước lớn.
Vui lòng tham khảo phần Điều trị bằng thuốc để biết danh sách các thuốc được khuyến cáo.
Liệu pháp giảm kích thước khối u cải thiện tỷ lệ sống còn và giúp giảm tái phát ở những bệnh nhân có bệnh xâm lấn trong ổ bụng. Phẫu thuật chỉ có thể được xem xét nếu có thể giảm thể tích khối u mà không còn sót bệnh. Phẫu thuật cắt bỏ rộng có thể được xem xét ở những bệnh nhân có bệnh tiến triển tại chỗ và những bệnh nhân có tái phát tại chỗ đơn độc vùng trung tâm với ranh giới rõ sau xạ trị.
Các xét nghiệm chẩn đoán cần xem xét đối với ung thư nội mạc tử cung tái phát bao gồm: Chụp PET/CT toàn thân nếu xem xét phẫu thuật hoặc điều trị tại chỗ -tại vùng; chụp CT bụng/chậu/ngực phụ thuộc vào các triệu chứng của bệnh nhân và đánh giá PE; và chụp MRI vùng chậu có thể được xem xét ở những bệnh nhân từ chối phẫu thuật cắt bỏ tử cung.
Điều trị
Xạ trị có thể được cân nhắc ở những bệnh nhân tái phát tại chỗ ở âm đạo sau phẫu thuật. Xạ trị chiếu ngoài kèm hoặc không kèm xạ trị áp sát, kèm hoặc không kèm liệu pháp toàn thân được khuyến cáo cho những bệnh nhân không có tiền sử xạ trị. Nếu có tiền sử xạ trị áp sát, khuyến cáo cắt bỏ bằng phẫu thuật kèm thăm dò, kèm hoặc không kèm xạ trị trong mổ (IORT) hoặc xạ trị chùm tia ngoài kèm hoặc không kèm xạ trị áp sát và kèm hoặc không kèm liệu pháp toàn thân. Nếu đã được xạ trị chùm tia ngoài trước đó, có thể xem xét các phương pháp sau: cắt bỏ bằng phẫu thuật kèm thăm dò, kèm hoặc không kèm xạ trị trong mổ; liệu pháp toàn thân kèm hoặc không kèm xạ trị chiếu ngoài giảm nhẹ; và xạ trị áp sát âm đạo kèm hoặc không kèm liệu pháp toàn thân. Có thể cân nhắc tái xạ trị triệt để bằng xạ trị lập thể toàn thân (SBRT), cấy hạt phóng xạ vĩnh viễn hoặc liệu pháp proton nếu không thể điều trị phẫu thuật.
Xạ trị chiếu ngoài kèm hoặc không kèm liệu pháp toàn thân có thể được xem xét cho những bệnh nhân tái phát hạch chậu, hạch cạnh động mạch chủ hoặc hạch chậu chung có nguy cơ tái phát toàn thân cao. Liệu pháp toàn thân kèm hoặc không kèm xạ trị chiếu ngoài có thể được xem xét cho những bệnh nhân tái phát bệnh vùng bụng trên/phúc mạc và còn sót bệnh trên vi thể. Xạ trị chiếu ngoài kèm hoặc không kèm liệu pháp toàn thân, kèm hoặc không kèm xạ trị áp sát âm đạo có thể được xem xét cho những bệnh nhân có khối u khu trú ở âm đạo hoặc mô mềm quanh âm đạo. Phẫu thuật cắt bỏ và/hoặc xạ trị chiếu ngoài, hoặc liệu pháp triệt đốt hoặc liệu pháp toàn thân có thể được xem xét cho những bệnh nhân có di căn đơn độc.
Liệu pháp hormone kết hợp với liệu pháp toàn thân được khuyến cáo cho bệnh nhân di căn lan tỏa có độ ác tính thấp, không triệu chứng với HR dương tính. Liệu pháp toàn thân kèm hoặc không kèm liệu pháp giảm nhẹ được khuyến cáo cho bệnh nhân di căn lan tỏa có độ ác tính cao hoặc khối u có kích thước lớn.
Vui lòng tham khảo phần Điều trị bằng thuốc để biết danh sách các thuốc được khuyến cáo.
Liệu pháp giảm kích thước khối u cải thiện tỷ lệ sống còn và giúp giảm tái phát ở những bệnh nhân có bệnh xâm lấn trong ổ bụng. Phẫu thuật chỉ có thể được xem xét nếu có thể giảm thể tích khối u mà không còn sót bệnh. Phẫu thuật cắt bỏ rộng có thể được xem xét ở những bệnh nhân có bệnh tiến triển tại chỗ và những bệnh nhân có tái phát tại chỗ đơn độc vùng trung tâm với ranh giới rõ sau xạ trị.
