Dị ứng thực phẩm (Nhi khoa) Tổng quan về bệnh

Cập nhật: 02 January 2026

Giới thiệu

Food Allergy (Pediatric)_Disease Background 1Food Allergy (Pediatric)_Disease Background 1


Dị ứng thực phẩm là một phản ứng có hại do đáp ứng miễn dịch đặc hiệu xảy ra lặp lại khi phơi nhiễm với một số thực phẩm nhất định. Tình trạng này có thể đe dọa tính mạng và là nguyên nhân thường gặp nhất của phản vệ ở trẻ em. Cần phân biệt với không dung nạp thực phẩm, trong đó các phản ứng có hại khi phơi nhiễm với thực phẩm phát sinh từ các cơ chế không miễn dịch.

Dịch tễ học

Đến năm 2024, một phần ba dân số thế giới được chẩn đoán là quá mẫn với các mức độ nặng khác nhau, và 10% trong số đó là do dị ứng thực phẩm. Thường gặp ở bé nam thời thơ ấu. Tỷ lệ hiện mắc dị ứng thực phẩm qua trung gian IgE cao nhất ở giai đoạn nhũ nhi và đầu thời thơ ấu, trong khi dị ứng đậu phộng và hạt cây thường xuất hiện ở giai đoạn nhũ nhi và chiếm ưu thế ở giai đoạn sau của thời thơ ấu.

Nguy cơ dị ứng thực phẩm phổ biến hơn ở các quần thể người châu Á và người da đen không phải gốc Tây Ban Nha. Người Mỹ da trắng có tỷ lệ hiện mắc dị ứng thực phẩm thấp hơn so với người Mỹ gốc Tây Ban Nha và gốc Á. Dị ứng thực phẩm gặp nhiều gấp ba lần ở trẻ sơ sinh có cha mẹ sinh ra tại Đông Á so với trẻ có cha mẹ là người Úc bản địa. Đối với phản vệ không tử vong, tỷ lệ mắc cao hơn ở người Nam Á tại Anh so với người da trắng.

Sinh bệnh học

Các cơ chế miễn dịch trong phát triển dị ứng thực phẩm gồm: qua trung gian IgE hay quá mẫn typ I (ví dụ hội chứng dị ứng đường miệng), không qua trung gian IgE hay quá mẫn typ III hoặc IV (ví dụ bệnh lý ruột do protein thực phẩm, bệnh celiac) có thể do một số bệnh mạn tính gây ra, và hỗn hợp qua trung gian IgE và không qua trung gian IgE (ví dụ viêm dạ dày ruột tăng bạch cầu ái toan).

Food Allergy (Pediatric)_Disease Background 2Food Allergy (Pediatric)_Disease Background 2


Đáp ứng miễn dịch đối với dị ứng thực phẩm diễn ra qua nhiều giai đoạn với các quá trình phức tạp. Khi dị nguyên xâm nhập cơ thể, chúng được nhận diện bởi các tế bào miễn dịch (tế bào tua, tế bào T hỗ trợ, tế bào B, dưỡng bào và bạch cầu ưa kiềm), và các kháng thể IgE đặc hiệu được tạo ra. Khi phơi nhiễm lặp lại với kháng nguyên, các chất trung gian gây viêm như histamine được phóng thích, dẫn đến ngứa, đỏ, sưng và, trong các trường hợp nặng là sốc phản vệ.

Yếu tố nguy cơ

Nguy cơ dị ứng thực phẩm cao ở trẻ nhũ nhi bị chàm thể tạng nặng và tăng nguy cơ ở trẻ nhũ nhi bị chàm thể tạng nhẹ đến trung bình hoặc có tiền sử gia đình có cơ địa dị ứng. Các yếu tố khác có thể làm nặng hơn mức độ phản ứng dị ứng gồm nhiễm virus, hen phế quản, thuốc (ví dụ NSAID), rối loạn hàng rào da, thiếu vitamin D, đường dùng và thời điểm phơi nhiễm thực phẩm lần đầu, tăng phơi nhiễm vi sinh, và thói quen ăn uống của mẹ.

Phân loại

Phân loại dị ứng thực phẩm dựa trên cơ chế miễn dịch tiềm ẩn

Dị ứng thực phẩm qua trung gian IgE

Dị ứng thực phẩm qua trung gian IgE thường gặp hơn ở trẻ em, ảnh hưởng đến 6% trẻ <5 tuổi. Tình trạng này thường gặp ở trẻ mắc viêm da cơ địa. Các nghiên cứu nhận thấy khả năng bị dị ứng thực phẩm cao hơn ở trẻ nhỏ có viêm da cơ địa nặng hơn. Phản ứng dị ứng xảy ra ngay lập tức, trong vòng vài phút đến 1-2 giờ sau khi phơi nhiễm với dị nguyên là thực phẩm gây bệnh. Các phản ứng tái phát khi tiếp xúc lại; một lượng nhỏ thực phẩm cũng có thể gây phản ứng nghiêm trọng. Có bằng chứng về tình trạng nhạy cảm với IgE và/hoặc phản ứng đáp ứng tế bào với dị nguyên thủ phạm.

Hội chứng dị ứng miệng (Hội chứng phấn hoa–thực phẩm)

Hội chứng dị ứng miệng gặp ở bệnh nhân bị dị ứng với phấn hoa, có phản ứng chéo với phấn hoa có trong rau và trái cây tươi. Tiếp xúc hầu họng với dị nguyên thực phẩm gây ngứa, cảm giác châm chích và phù mạch ở môi, lưỡi, khẩu cái và họng.

Phản vệ đường tiêu hóa

Phản vệ đường tiêu hóa thường xảy ra sau khi ăn các protein sau: Sữa, trứng, đậu phộng, đậu nành, ngũ cốc và cá. Buồn nôn, đau quặn bụng, nôn, tiêu chảy hoặc phối hợp các triệu chứng này có thể xuất hiện sau khi ăn dị nguyên. Biểu hiện ngoài đường tiêu hóa bao gồm phản ứng ở da, hô hấp và phản vệ toàn thân. Phản ứng đe dọa tính mạng liên quan đến đậu phộng, hạt cây, cá và hải sản có vỏ.

Dị ứng thực phẩm không qua trung gian IgE

Các nghiên cứu cho thấy tế bào T có thể làm trung gian cho quá trình bệnh sinh của một số phân nhóm dị ứng thực phẩm. Bệnh thường biểu hiện bằng triệu chứng ở bụng như nôn, đau bụng, hoặc tiêu ra máu. Các triệu chứng xuất hiện vài giờ sau khi ăn dị nguyên.

Hội chứng viêm ruột do protein thực phẩm

Các triệu chứng của hội chứng viêm ruột do protein thực phẩm xuất hiện trong vòng 1-4 giờ sau khi ăn phải dị nguyên gây bệnh. Tình trạng này thường xảy ra trong vài năm đầu đời và có thể biểu hiện bằng phân có vệt máu ở trẻ bú mẹ thường xuyên.

Viêm trực tràng và trực tràng–đại tràng do dị ứng protein thực phẩm

Viêm trực tràng và trực tràng–đại tràng do dị ứng protein thực phẩm là bệnh thoáng qua, thường gặp ở trẻ sơ sinh, thường tự hết trong 2 năm đầu đời. Bệnh xảy ra khi dùng sữa bò, đậu nành hoặc sữa mẹ ở giai đoạn sơ sinh. Có thể biểu hiện bằng phân nhầy lẫn máu, tiêu chảy, nôn và chậm tăng trưởng.

Hội chứng bệnh lý ruột do protein thực phẩm

Hội chứng bệnh lý ruột do protein thực phẩm đặc trưng bởi kém hấp thu các chất dinh dưỡng nói chung, dẫn đến tiêu chảy mạn tính, sụt cân và chậm tăng trưởng ở trẻ sơ sinh. Các triệu chứng thường biến mất khi 2-3 tuổi. Nguyên nhân thường do dị ứng sữa, nhưng đậu nành, thịt gà, cá và gạo cũng có thể là dị nguyên.

Viêm da tiếp xúc dị ứng

Viêm da tiếp xúc dị ứng là phản ứng dị ứng qua trung gian tế bào đối với thực phẩm hoặc chất nhiễm trong thực phẩm. Phản ứng dị ứng khởi phát do tiếp xúc với các thành phần hóa học trong thực phẩm.

Dị ứng thực phẩm hỗn hợp qua trung gian IgE và không qua trung gian IgE

Nghi ngờ dị ứng thực phẩm hỗn hợp qua trung gian IgE và không qua trung gian IgE khi triệu chứng xuất hiện mang tính mạn tính hơn, lâu khỏi, hoặc không liên quan chặt chẽ với việc ăn dị nguyên thực phẩm.

Bệnh lý ruột tăng bạch cầu ái toan do dị ứng

Bệnh lý ruột tăng bạch cầu ái toan do dị ứng đặc trưng bởi thâm nhiễm mạnh bạch cầu ái toan tại cơ quan đặc hiệu có liên quan (ví dụ thực quản, dạ dày, ruột non). Triệu chứng gồm nôn, chán ăn, đau bụng, nôn ra máu, trào ngược, sụt cân, thiếu máu và chậm tăng trưởng.

Dị ứng với thực phẩm cụ thể

Các dị nguyên thực phẩm thường gặp thường là glycoprotein. Mặc dù bất kỳ thực phẩm nào cũng có thể gây phản ứng qua trung gian IgE, nhưng một số có tính sinh dị ứng cao hơn. Ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ, các dị nguyên thường gặp là sữa bò, trứng, đậu phộng, hạt cây, lúa mì và đậu nành.

Dị ứng sữa bò (CMA)

Dị ứng sữa bò ảnh hưởng 2-3% dân số chung. Tình trạng này có thể hiện diện ngay từ lúc sinh và thậm chí ở trẻ bú mẹ hoàn toàn; tuy nhiên không phải mọi phản ứng có hại với sữa bò đều có bản chất dị ứng. Chín mươi phần trăm (90%) người dị ứng sữa bò sẽ phản ứng với sữa dê hoặc cừu do mức độ phản ứng chéo cao. Khuyến cáo nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn đến 4-6 tháng tuổi, trừ khi nuôi con bằng sữa mẹ bị chống chỉ định vì lý do y khoa. Để đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của trẻ nhũ nhi mắc dị ứng sữa bò (CMA), khuyến cáo dùng sữa công thức thay thế đến ít nhất 2 tuổi. Sữa công thức thủy phân hoàn toàn là lựa chọn đầu tay, trừ ở bệnh nhân có sốc phản vệ và viêm thực quản tăng bạch cầu ái toan. Không nên dùng sữa công thức từ đậu nành cho trẻ <6 tháng tuổi. Các yếu tố dự đoán khả năng đạt dung nạp bao gồm nồng độ IgE huyết thanh giảm dần, không có hen phế quản hoặc viêm mũi dị ứng và chưa từng được nuôi bằng sữa công thức. Khoảng 80% trẻ bị ảnh hưởng đạt được dung nạp ở độ tuổi 3-5 năm.

Dị ứng trứng

Dị ứng trứng liên quan chặt chẽ với viêm da cơ địa. Vaccine MMR (Sởi, Quai bị, Rubella) có thể được tiêm an toàn cho bệnh nhân dị ứng trứng. Bệnh nhân dị ứng trứng cần tiêm vaccine cúm nên được chuyển đến cơ sở lâm sàng có kinh nghiệm trong xử trí sốc phản vệ. Khoảng 67% trẻ bị ảnh hưởng đạt được dung nạp khi 5 tuổi.

Dị ứng đậu phộng

Food Allergy (Pediatric)_Disease Background 3Food Allergy (Pediatric)_Disease Background 3


Dị ứng đậu phộng thường kéo dài suốt đời, thường nghiêm trọng và có khả năng gây tử vong. Bệnh nhân nhìn chung có thể dung nạp các loại đậu khác, bao gồm đậu nành. Bằng chứng hiện tại cho thấy dị ứng đậu phộng ở trẻ sơ sinh nguy cơ cao có thể được phòng ngừa bằng cách cho tiếp xúc sớm với đậu phộng ở 4-6 tháng tuổi. Không cần tránh các cây họ đậu khác vì phản ứng chéo trên lâm sàng không phổ biến; tuy nhiên, vẫn nên tránh các loại hạt cây (hạt từ cây thân gỗ).

Dị ứng các loại hạt cây

Các ví dụ về hạt cây gồm óc chó, hạt điều, trái phỉ, hồ đào, hạnh nhân và hồ trăn. Dị ứng hạt cây có thể nghiêm trọng và đe dọa tính mạng; và dị ứng này thường kéo dài suốt đời. Tình trạng này phổ biến (25-40%) ở trẻ em bị dị ứng đậu phộng.