Điều trị bằng thuốc
Các phản ứng dị ứng do thực phẩm không cấp tính
Thuốc kháng histamine (Thuốc đối kháng thụ thể H1 và H2)
Food Allergy (Pediatric)_Management 1
Thuốc kháng histamine vẫn là thuốc chính trong quản lý triệu chứng của các phản ứng dị ứng không nặng do thực phẩm. Chủ yếu được dùng cho các phản ứng ngoài da (ví dụ ngứa và mày đay) nhưng không phải là thuốc hàng đầu trong sốc phản vệ. Cũng có thể dùng trong trường hợp khó tránh dị nguyên hoặc khi việc tránh dị nguyên gây thiếu hụt dinh dưỡng. Thuốc kháng histamine đường uống dùng cho sơ cứu phản ứng dị ứng nên ở dạng nhai hoặc dung dịch để hấp thu nhanh hơn. Không khuyến cáo dùng để phòng ngừa các phản ứng dị ứng do thực phẩm.
Corticosteroid
Mặc dù không dùng trong điều trị sốc phản vệ cấp do khởi phát tác dụng chậm, việc sử dụng theo kinh nghiệm vẫn được chuyên gia y tế ủng hộ. Tính chất chống viêm của corticosteroid mang lại lợi ích trong các bệnh dị ứng. Các thuốc này giúp ngăn ngừa tái phát triệu chứng và phản ứng hai pha hoặc kéo dài.
Kháng thể đơn dòng
Ví dụ: dupilumab, etokimab, omalizumab
Omalizumab được chỉ định cho dị ứng thực phẩm qua trung gian IgE ở trẻ em ≥1 tuổi nhằm giảm các phản ứng dị ứng typ I, bao gồm sốc phản vệ, có thể xảy ra khi phơi nhiễm tình cờ với ≥1 loại thực phẩm. Thuốc này được dùng lặp lại để giảm nguy cơ phản ứng dị ứng và phải sử dụng cùng với tránh dị nguyên thức ăn. Không chỉ định để điều trị cấp cứu các phản ứng dị ứng, bao gồm sốc phản vệ. Các nghiên cứu cho thấy dupilumab và etokimab có thể làm giảm phản ứng dị ứng thực phẩm bằng cách ức chế lần lượt thụ thể IL-4 và IL-3, và thụ thể IL-33, vốn liên quan đến tăng nguy cơ dị ứng thực phẩm. Các liệu pháp khác đang được nghiên cứu cho dị ứng thực phẩm bao gồm ligelizumab, abatacept và acalabrutinib.
Liệu pháp miễn dịch
Food Allergy (Pediatric)_Management 2
Liệu pháp miễn dịch là một lựa chọn điều trị cho bệnh nhân đã xác nhận dị ứng thực phẩm nguyên phát qua trung gian IgE hoặc dị ứng dai dẳng, ở những người mà biện pháp tránh dị nguyên kém hiệu quả, không dung nạp hoặc ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống. Có thể cân nhắc liệu pháp miễn dịch đường uống như một lựa chọn điều trị cho trẻ ≥4 tuổi được chẩn đoán lâm sàng là dị ứng nặng dai dẳng với protein sữa bò qua trung gian IgE, và dị ứng trứng gà dựa trên việc tăng ngưỡng phản ứng lâm sàng trong quá trình điều trị.
Liệu pháp miễn dịch đường uống với đậu phộng được khuyến cáo cho một số trẻ ≥4 tuổi được chẩn đoán lâm sàng là dị ứng đậu phộng nặng qua trung gian IgE, dưới sự giám sát của chuyên gia để tăng dung nạp đậu phộng trong khi điều trị. Liệu pháp miễn dịch qua da với đậu phộng có thể được cân nhắc ở một số trẻ 4-11 tuổi được chẩn đoán lâm sàng dị ứng đậu phộng nặng qua trung gian IgE, dưới sự giám sát của chuyên gia để tăng dung nạp đậu phộng trong khi điều trị. Cần cân nhắc lợi ích lâm sàng so với tác dụng không mong muốn của liệu pháp miễn dịch đường uống, ngậm dưới lưỡi và qua da, và cân nhắc rằng chưa có bằng chứng rõ ràng về khả năng tạo dung nạp lâu dài đối với thực phẩm đích. Liệu pháp miễn dịch đường uống hiệu quả hơn trong giải mẫn cảm nhưng có thể gây nhiều tác dụng có hại hơn so với liệu pháp miễn dịch ngậm dưới lưỡi và qua da.
Chỉ định liệu pháp miễn dịch dị nguyên (tất cả các trường hợp sau) bao gồm: Tiền sử phản ứng dị ứng toàn thân qua trung gian IgE sau khi ăn và/hoặc thử thách ăn thực phẩm dương tính; bằng chứng về tình trạng nhạy cảm dị ứng; dị ứng thực phẩm nguyên phát, trái với hội chứng dị ứng phấn hoa-thức ăn do phản ứng chéo; dị ứng thực phẩm dai dẳng với khả năng tự khỏi thấp; cha mẹ, bệnh nhân và người chăm sóc hiểu đầy đủ về hiệu quả, tác dụng không mong muốn, thuốc và thời gian điều trị có thể kéo dài suốt đời; và cha mẹ, bệnh nhân và người chăm sóc phải có động lực, tuân thủ và có khả năng áp dụng điều trị cấp cứu; tiền sử phản ứng nghiêm trọng với thực phẩm hoặc chất lượng cuộc sống suy giảm do gánh nặng dị ứng thực phẩm; sự sẵn sàng của cha mẹ, bệnh nhân và người chăm sóc để đưa thực phẩm vào chế độ ăn; và sự ổn định của cuộc sống và hoàn cảnh gia đình.
Chống chỉ định tuyệt đối đối với liệu pháp miễn dịch bao gồm tuân thủ kém, hen phế quản không kiểm soát/nặng, bệnh ác tính đang hoạt động, rối loạn tự miễn toàn thân đang hoạt động, liệu pháp ức chế miễn dịch toàn thân, viêm thực quản tăng bạch cầu ái toan đang hoạt động, các rối loạn tiêu hóa tăng bạch cầu ái toan khác và thai kỳ. Chống chỉ định tương đối bao gồm các bệnh lý nặng ví dụ bệnh tim mạch, rối loạn tự miễn hệ thống đang thuyên giảm, viêm da cơ địa hoạt động chưa được kiểm soát, mày đay mạn tính chưa được kiểm soát, điều trị bằng thuốc chẹn β hoặc thuốc ức chế men chuyển (ACEI), tăng sinh tế bào mast, tăng liều của liệu pháp miễn dịch khác, triệu chứng tiêu hóa mạn tính chưa được chẩn đoán, không thể ăn/uống các sản phẩm được nghiên cứu, vấn đề tâm lý hoặc khả năng có rối loạn ăn uống.
Sốc phản vệ do thực phẩm
Epinephrine
Trong trường hợp sốc phản vệ đe dọa tính mạng, tự tiêm bắp epinephrine 0,01 mg/kg là liệu pháp đầu tay duy nhất; tất cả các điều trị khác là hỗ trợ. Tiêm bắp epinephrine giúp tăng nồng độ trong huyết tương và mô nhanh hơn so với tiêm dưới da. Bệnh nhân có nguy cơ sốc phản vệ do thực phẩm nên được kê đơn ít nhất hai bút tiêm tự động và phải luôn mang theo. Tiêm tĩnh mạch epinephrine được khuyến cáo cho bệnh nhân không đáp ứng với tự tiêm bắp epinephrine lặp lại và bù dịch. Có thể dùng mỗi 5-15 phút theo nhu cầu để duy trì huyết áp và kiểm soát triệu chứng.
Thuốc giãn phế quản (hít)
Ví dụ: albuterol
Thuốc giãn phế quản dạng hít là điều trị hỗ trợ cho co thắt phế quản không đáp ứng với epinephrine tiêm bắp. Liệu pháp khí dung, nếu có, được xem là thực tế hơn so với bình xịt định liều.
Thuốc vận mạch
Ví dụ: dopamine
Thuốc vận mạch được sử dụng trong các trường hợp hạ huyết áp kéo dài trong sốc phản vệ dù đã dùng epinephrine và dịch truyền tĩnh mạch. Cần theo dõi liên tục các dấu hiệu sinh tồn.
Glucagon
Glucagon có thể được sử dụng cho tụt huyết áp kháng trị và nhịp tim chậm ở những bệnh nhân đang dùng thuốc chẹn β vì tác dụng vận mạch của epinephrine có thể bị giảm ở các bệnh nhân này.
Thuốc kháng histamine (thuốc đối kháng thụ thể H1 và H2)
Có bằng chứng hạn chế để ủng hộ việc sử dụng thuốc kháng histamine trong điều trị cấp cứu sốc phản vệ. Thuốc chỉ hữu ích để giảm mày đay và ngứa.
Atropine
Có thể cân nhắc dùng atropine cho bệnh nhân có nhịp tim chậm.
Thuốc kháng histamine (Thuốc đối kháng thụ thể H1 và H2)
Food Allergy (Pediatric)_Management 1Thuốc kháng histamine vẫn là thuốc chính trong quản lý triệu chứng của các phản ứng dị ứng không nặng do thực phẩm. Chủ yếu được dùng cho các phản ứng ngoài da (ví dụ ngứa và mày đay) nhưng không phải là thuốc hàng đầu trong sốc phản vệ. Cũng có thể dùng trong trường hợp khó tránh dị nguyên hoặc khi việc tránh dị nguyên gây thiếu hụt dinh dưỡng. Thuốc kháng histamine đường uống dùng cho sơ cứu phản ứng dị ứng nên ở dạng nhai hoặc dung dịch để hấp thu nhanh hơn. Không khuyến cáo dùng để phòng ngừa các phản ứng dị ứng do thực phẩm.
Corticosteroid
Mặc dù không dùng trong điều trị sốc phản vệ cấp do khởi phát tác dụng chậm, việc sử dụng theo kinh nghiệm vẫn được chuyên gia y tế ủng hộ. Tính chất chống viêm của corticosteroid mang lại lợi ích trong các bệnh dị ứng. Các thuốc này giúp ngăn ngừa tái phát triệu chứng và phản ứng hai pha hoặc kéo dài.
Kháng thể đơn dòng
Ví dụ: dupilumab, etokimab, omalizumab
Omalizumab được chỉ định cho dị ứng thực phẩm qua trung gian IgE ở trẻ em ≥1 tuổi nhằm giảm các phản ứng dị ứng typ I, bao gồm sốc phản vệ, có thể xảy ra khi phơi nhiễm tình cờ với ≥1 loại thực phẩm. Thuốc này được dùng lặp lại để giảm nguy cơ phản ứng dị ứng và phải sử dụng cùng với tránh dị nguyên thức ăn. Không chỉ định để điều trị cấp cứu các phản ứng dị ứng, bao gồm sốc phản vệ. Các nghiên cứu cho thấy dupilumab và etokimab có thể làm giảm phản ứng dị ứng thực phẩm bằng cách ức chế lần lượt thụ thể IL-4 và IL-3, và thụ thể IL-33, vốn liên quan đến tăng nguy cơ dị ứng thực phẩm. Các liệu pháp khác đang được nghiên cứu cho dị ứng thực phẩm bao gồm ligelizumab, abatacept và acalabrutinib.
Liệu pháp miễn dịch
Food Allergy (Pediatric)_Management 2Liệu pháp miễn dịch là một lựa chọn điều trị cho bệnh nhân đã xác nhận dị ứng thực phẩm nguyên phát qua trung gian IgE hoặc dị ứng dai dẳng, ở những người mà biện pháp tránh dị nguyên kém hiệu quả, không dung nạp hoặc ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống. Có thể cân nhắc liệu pháp miễn dịch đường uống như một lựa chọn điều trị cho trẻ ≥4 tuổi được chẩn đoán lâm sàng là dị ứng nặng dai dẳng với protein sữa bò qua trung gian IgE, và dị ứng trứng gà dựa trên việc tăng ngưỡng phản ứng lâm sàng trong quá trình điều trị.
Liệu pháp miễn dịch đường uống với đậu phộng được khuyến cáo cho một số trẻ ≥4 tuổi được chẩn đoán lâm sàng là dị ứng đậu phộng nặng qua trung gian IgE, dưới sự giám sát của chuyên gia để tăng dung nạp đậu phộng trong khi điều trị. Liệu pháp miễn dịch qua da với đậu phộng có thể được cân nhắc ở một số trẻ 4-11 tuổi được chẩn đoán lâm sàng dị ứng đậu phộng nặng qua trung gian IgE, dưới sự giám sát của chuyên gia để tăng dung nạp đậu phộng trong khi điều trị. Cần cân nhắc lợi ích lâm sàng so với tác dụng không mong muốn của liệu pháp miễn dịch đường uống, ngậm dưới lưỡi và qua da, và cân nhắc rằng chưa có bằng chứng rõ ràng về khả năng tạo dung nạp lâu dài đối với thực phẩm đích. Liệu pháp miễn dịch đường uống hiệu quả hơn trong giải mẫn cảm nhưng có thể gây nhiều tác dụng có hại hơn so với liệu pháp miễn dịch ngậm dưới lưỡi và qua da.
Chỉ định liệu pháp miễn dịch dị nguyên (tất cả các trường hợp sau) bao gồm: Tiền sử phản ứng dị ứng toàn thân qua trung gian IgE sau khi ăn và/hoặc thử thách ăn thực phẩm dương tính; bằng chứng về tình trạng nhạy cảm dị ứng; dị ứng thực phẩm nguyên phát, trái với hội chứng dị ứng phấn hoa-thức ăn do phản ứng chéo; dị ứng thực phẩm dai dẳng với khả năng tự khỏi thấp; cha mẹ, bệnh nhân và người chăm sóc hiểu đầy đủ về hiệu quả, tác dụng không mong muốn, thuốc và thời gian điều trị có thể kéo dài suốt đời; và cha mẹ, bệnh nhân và người chăm sóc phải có động lực, tuân thủ và có khả năng áp dụng điều trị cấp cứu; tiền sử phản ứng nghiêm trọng với thực phẩm hoặc chất lượng cuộc sống suy giảm do gánh nặng dị ứng thực phẩm; sự sẵn sàng của cha mẹ, bệnh nhân và người chăm sóc để đưa thực phẩm vào chế độ ăn; và sự ổn định của cuộc sống và hoàn cảnh gia đình.
Chống chỉ định tuyệt đối đối với liệu pháp miễn dịch bao gồm tuân thủ kém, hen phế quản không kiểm soát/nặng, bệnh ác tính đang hoạt động, rối loạn tự miễn toàn thân đang hoạt động, liệu pháp ức chế miễn dịch toàn thân, viêm thực quản tăng bạch cầu ái toan đang hoạt động, các rối loạn tiêu hóa tăng bạch cầu ái toan khác và thai kỳ. Chống chỉ định tương đối bao gồm các bệnh lý nặng ví dụ bệnh tim mạch, rối loạn tự miễn hệ thống đang thuyên giảm, viêm da cơ địa hoạt động chưa được kiểm soát, mày đay mạn tính chưa được kiểm soát, điều trị bằng thuốc chẹn β hoặc thuốc ức chế men chuyển (ACEI), tăng sinh tế bào mast, tăng liều của liệu pháp miễn dịch khác, triệu chứng tiêu hóa mạn tính chưa được chẩn đoán, không thể ăn/uống các sản phẩm được nghiên cứu, vấn đề tâm lý hoặc khả năng có rối loạn ăn uống.
Sốc phản vệ do thực phẩm
Epinephrine
Trong trường hợp sốc phản vệ đe dọa tính mạng, tự tiêm bắp epinephrine 0,01 mg/kg là liệu pháp đầu tay duy nhất; tất cả các điều trị khác là hỗ trợ. Tiêm bắp epinephrine giúp tăng nồng độ trong huyết tương và mô nhanh hơn so với tiêm dưới da. Bệnh nhân có nguy cơ sốc phản vệ do thực phẩm nên được kê đơn ít nhất hai bút tiêm tự động và phải luôn mang theo. Tiêm tĩnh mạch epinephrine được khuyến cáo cho bệnh nhân không đáp ứng với tự tiêm bắp epinephrine lặp lại và bù dịch. Có thể dùng mỗi 5-15 phút theo nhu cầu để duy trì huyết áp và kiểm soát triệu chứng.
Thuốc giãn phế quản (hít)
Ví dụ: albuterol
Thuốc giãn phế quản dạng hít là điều trị hỗ trợ cho co thắt phế quản không đáp ứng với epinephrine tiêm bắp. Liệu pháp khí dung, nếu có, được xem là thực tế hơn so với bình xịt định liều.
Thuốc vận mạch
Ví dụ: dopamine
Thuốc vận mạch được sử dụng trong các trường hợp hạ huyết áp kéo dài trong sốc phản vệ dù đã dùng epinephrine và dịch truyền tĩnh mạch. Cần theo dõi liên tục các dấu hiệu sinh tồn.
Glucagon
Glucagon có thể được sử dụng cho tụt huyết áp kháng trị và nhịp tim chậm ở những bệnh nhân đang dùng thuốc chẹn β vì tác dụng vận mạch của epinephrine có thể bị giảm ở các bệnh nhân này.
Thuốc kháng histamine (thuốc đối kháng thụ thể H1 và H2)
Có bằng chứng hạn chế để ủng hộ việc sử dụng thuốc kháng histamine trong điều trị cấp cứu sốc phản vệ. Thuốc chỉ hữu ích để giảm mày đay và ngứa.
Atropine
Có thể cân nhắc dùng atropine cho bệnh nhân có nhịp tim chậm.
Điều trị không dùng thuốc
Tránh dị nguyên
Food Allergy (Pediatric)_Management 3
Tránh dị nguyên được xem là điều trị hàng đầu ở bệnh nhân được ghi nhận và xác nhận có dị ứng thực phẩm. Cần tư vấn cho bệnh nhân về các dị nguyên phản ứng chéo trong các thực phẩm khác, các dị nguyên thực phẩm ẩn (ví dụ casein và váng sữa đối với sữa bò, ovalbumin đối với trứng gà) và các tình huống nguy cơ cao như sốc phản vệ. Chỉ khuyến cáo chế độ ăn loại trừ dựa trên tiền sử dương tính được xác nhận bằng test lẩy da hoặc xét nghiệm IgE đặc hiệu. Đảm bảo đáp ứng đủ nhu cầu dinh dưỡng của bệnh nhân để tránh thiếu hụt dinh dưỡng. Đảm bảo rằng bệnh nhân thực sự dị ứng lâm sàng với một loại thực phẩm cụ thể trước khi loại bỏ thực phẩm đó khỏi chế độ ăn; vì có thể liên quan đến tăng trưởng và phát triển của bệnh nhân. Ở bệnh nhân được xác định mắc dị ứng thực phẩm qua trung gian IgE, nên tiếp tục tiêu thụ các loại thực phẩm gây mẫn cảm nhưng vẫn dung nạp được. Nên áp dụng chế độ ăn uống cá nhân hóa phù hợp với độ tuổi cho bệnh nhân được xác định mắc dị ứng thực phẩm qua trung gian IgE, và cần có sự hỗ trợ thêm từ chuyên gia dinh dưỡng trong những trường hợp phức tạp. Ở người không ghi nhận hoặc xác nhận dị ứng thực phẩm, không khuyến cáo việc tránh các thực phẩm có khả năng gây dị ứng như một phần của quản lý hen phế quản, viêm da cơ địa hoặc viêm thực quản tăng bạch cầu ái toan. Không khuyến cáo tránh dị nguyên trong thai kỳ để phòng dị ứng cho con do nguy cơ đối với dinh dưỡng của mẹ và/hoặc thai nhi, và thiếu bằng chứng hỗ trợ việc triển khai.
Vui lòng xem phần Phòng ngừa dị ứng để thảo luận thêm.
Chuyển đến chuyên gia dị ứng - miễn dịch
Nên chuyển bệnh nhân đến chuyên gia dị ứng - miễn dịch trong các trường hợp sau: Triệu chứng tái phát hoặc khó kiểm soát và/hoặc cần dùng thuốc hàng ngày để phòng ngừa; bệnh nhân có dị ứng thực phẩm qua trung gian IgE đã được xác nhận và có hen phế quản; và xét nghiệm âm tính nhưng nghi ngờ cao dị ứng thực phẩm qua trung gian IgE.
Điều trị hỗ trợ cho phản ứng dị ứng cấp tính đe dọa tính mạng
Liệu pháp oxy bổ sung nên áp dụng cho bệnh nhân bị sốc phản vệ, đặc biệt khi có giảm oxy máu và khó thở. Dịch truyền tĩnh mạch hoặc bù dịch với thể tích lớn phải được truyền ngay cho bệnh nhân tụt huyết áp và những người đáp ứng không đầy đủ với epinephrine tiêm bắp. Nên đặt bệnh nhân ở tư thế nằm ngửa, nâng cao hai chi dưới để tăng tưới máu các cơ quan quan trọng, nếu chịu được; bệnh nhân nôn có thể đặt ở tư thế nằm nghiêng bên trái.
Vui lòng xem sơ đồ quản lý Sốc phản vệ để biết thêm thông tin.
Giáo dục bệnh nhân/người chăm sóc
Food Allergy (Pediatric)_Management 4
Khuyến cáo tư vấn dinh dưỡng và theo dõi tăng trưởng định kỳ cho tất cả trẻ em bị dị ứng thực phẩm. Trẻ em (từ 11 tuổi) chuyển tiếp sang vị thành niên/người lớn nên được cung cấp kế hoạch quản lý nguy cơ và chuyển tiếp hiệu quả. Cần giáo dục bệnh nhân và người chăm sóc về dị ứng để tránh vô tình ăn phải dị nguyên thực phẩm. Học cách đọc nhãn thực phẩm, hỏi tại nhà hàng và thực hiện các biện pháp phòng ngừa để tránh phơi nhiễm không chủ ý với dị nguyên thực phẩm đã biết. Vòng tay hoặc dây chuyền thông tin y tế cho bệnh nhân có thể cung cấp các chi tiết y khoa quan trọng khi bệnh nhân bất tỉnh hoặc không thể giao tiếp do phản ứng bất lợi do thực phẩm. Cần xây dựng kế hoạch hành động đối với dị ứng thực phẩm, bao gồm các bước cần thực hiện khi có phản ứng, liều dùng thuốc và thông tin liên hệ của thành viên gia đình và nhân viên y tế. Kế hoạch này cần được thảo luận kỹ với bệnh nhân, gia đình và người chăm sóc. Bệnh nhân có tiền sử sốc phản vệ do thực phẩm cần biết cách sử dụng epinephrine tự tiêm.
Food Allergy (Pediatric)_Management 3Tránh dị nguyên được xem là điều trị hàng đầu ở bệnh nhân được ghi nhận và xác nhận có dị ứng thực phẩm. Cần tư vấn cho bệnh nhân về các dị nguyên phản ứng chéo trong các thực phẩm khác, các dị nguyên thực phẩm ẩn (ví dụ casein và váng sữa đối với sữa bò, ovalbumin đối với trứng gà) và các tình huống nguy cơ cao như sốc phản vệ. Chỉ khuyến cáo chế độ ăn loại trừ dựa trên tiền sử dương tính được xác nhận bằng test lẩy da hoặc xét nghiệm IgE đặc hiệu. Đảm bảo đáp ứng đủ nhu cầu dinh dưỡng của bệnh nhân để tránh thiếu hụt dinh dưỡng. Đảm bảo rằng bệnh nhân thực sự dị ứng lâm sàng với một loại thực phẩm cụ thể trước khi loại bỏ thực phẩm đó khỏi chế độ ăn; vì có thể liên quan đến tăng trưởng và phát triển của bệnh nhân. Ở bệnh nhân được xác định mắc dị ứng thực phẩm qua trung gian IgE, nên tiếp tục tiêu thụ các loại thực phẩm gây mẫn cảm nhưng vẫn dung nạp được. Nên áp dụng chế độ ăn uống cá nhân hóa phù hợp với độ tuổi cho bệnh nhân được xác định mắc dị ứng thực phẩm qua trung gian IgE, và cần có sự hỗ trợ thêm từ chuyên gia dinh dưỡng trong những trường hợp phức tạp. Ở người không ghi nhận hoặc xác nhận dị ứng thực phẩm, không khuyến cáo việc tránh các thực phẩm có khả năng gây dị ứng như một phần của quản lý hen phế quản, viêm da cơ địa hoặc viêm thực quản tăng bạch cầu ái toan. Không khuyến cáo tránh dị nguyên trong thai kỳ để phòng dị ứng cho con do nguy cơ đối với dinh dưỡng của mẹ và/hoặc thai nhi, và thiếu bằng chứng hỗ trợ việc triển khai.
Vui lòng xem phần Phòng ngừa dị ứng để thảo luận thêm.
Chuyển đến chuyên gia dị ứng - miễn dịch
Nên chuyển bệnh nhân đến chuyên gia dị ứng - miễn dịch trong các trường hợp sau: Triệu chứng tái phát hoặc khó kiểm soát và/hoặc cần dùng thuốc hàng ngày để phòng ngừa; bệnh nhân có dị ứng thực phẩm qua trung gian IgE đã được xác nhận và có hen phế quản; và xét nghiệm âm tính nhưng nghi ngờ cao dị ứng thực phẩm qua trung gian IgE.
Điều trị hỗ trợ cho phản ứng dị ứng cấp tính đe dọa tính mạng
Liệu pháp oxy bổ sung nên áp dụng cho bệnh nhân bị sốc phản vệ, đặc biệt khi có giảm oxy máu và khó thở. Dịch truyền tĩnh mạch hoặc bù dịch với thể tích lớn phải được truyền ngay cho bệnh nhân tụt huyết áp và những người đáp ứng không đầy đủ với epinephrine tiêm bắp. Nên đặt bệnh nhân ở tư thế nằm ngửa, nâng cao hai chi dưới để tăng tưới máu các cơ quan quan trọng, nếu chịu được; bệnh nhân nôn có thể đặt ở tư thế nằm nghiêng bên trái.
Vui lòng xem sơ đồ quản lý Sốc phản vệ để biết thêm thông tin.
Giáo dục bệnh nhân/người chăm sóc
Food Allergy (Pediatric)_Management 4Khuyến cáo tư vấn dinh dưỡng và theo dõi tăng trưởng định kỳ cho tất cả trẻ em bị dị ứng thực phẩm. Trẻ em (từ 11 tuổi) chuyển tiếp sang vị thành niên/người lớn nên được cung cấp kế hoạch quản lý nguy cơ và chuyển tiếp hiệu quả. Cần giáo dục bệnh nhân và người chăm sóc về dị ứng để tránh vô tình ăn phải dị nguyên thực phẩm. Học cách đọc nhãn thực phẩm, hỏi tại nhà hàng và thực hiện các biện pháp phòng ngừa để tránh phơi nhiễm không chủ ý với dị nguyên thực phẩm đã biết. Vòng tay hoặc dây chuyền thông tin y tế cho bệnh nhân có thể cung cấp các chi tiết y khoa quan trọng khi bệnh nhân bất tỉnh hoặc không thể giao tiếp do phản ứng bất lợi do thực phẩm. Cần xây dựng kế hoạch hành động đối với dị ứng thực phẩm, bao gồm các bước cần thực hiện khi có phản ứng, liều dùng thuốc và thông tin liên hệ của thành viên gia đình và nhân viên y tế. Kế hoạch này cần được thảo luận kỹ với bệnh nhân, gia đình và người chăm sóc. Bệnh nhân có tiền sử sốc phản vệ do thực phẩm cần biết cách sử dụng epinephrine tự tiêm.
