Đánh giá
Chỉ định nhập viện
Các chỉ định nhập viện bao gồm: Mất nước nặng; có sốc, nôn không kiểm soát hoặc nôn ra dịch mật, bất thường thần kinh (ví dụ lơ mơ, co giật); khó khăn trong việc thực hiện liệu pháp bù nước đường uống (ORT) (ví dụ nôn liên tục, từ chối hoặc uống không đủ dung dịch bù nước đường uống [ORS]); thất bại với điều trị bằng ORS, bao gồm tiêu chảy hoặc mất nước nặng hơn dù đã dùng đủ lượng dịch bù; có bệnh đồng mắc; gia đình không có khả năng chăm sóc đầy đủ tại nhà; những lo ngại có thể cản trở việc quay lại để đánh giá hoặc theo dõi; và tuổi còn nhỏ.
Các chỉ định nhập viện bao gồm: Mất nước nặng; có sốc, nôn không kiểm soát hoặc nôn ra dịch mật, bất thường thần kinh (ví dụ lơ mơ, co giật); khó khăn trong việc thực hiện liệu pháp bù nước đường uống (ORT) (ví dụ nôn liên tục, từ chối hoặc uống không đủ dung dịch bù nước đường uống [ORS]); thất bại với điều trị bằng ORS, bao gồm tiêu chảy hoặc mất nước nặng hơn dù đã dùng đủ lượng dịch bù; có bệnh đồng mắc; gia đình không có khả năng chăm sóc đầy đủ tại nhà; những lo ngại có thể cản trở việc quay lại để đánh giá hoặc theo dõi; và tuổi còn nhỏ.
Nguyên tắc điều trị
Viêm dạ dày-ruột do virus nhìn chung là bệnh tự khỏi.
Đánh giá mức độ nặng của mất nước
Mục tiêu của việc đánh giá mức độ nặng của mất nước là cung cấp cơ sở cho điều trị; và xác định bệnh nhân có thể an toàn về nhà điều trị, nên ở lại để theo dõi trong quá trình điều trị, hoặc có thể cần nhập viện để điều trị tích cực.
Bù nước và duy trì tình trạng dịch
Mục tiêu điều trị là duy trì tình trạng dịch và xử trí mất cân bằng dịch và điện giải, chủ yếu dựa trên mức độ mất nước. Không nên dùng liệu pháp kháng sinh theo kinh nghiệm trừ khi bệnh nhân suy giảm miễn dịch.
Đánh giá mức độ nặng của mất nước
Mục tiêu của việc đánh giá mức độ nặng của mất nước là cung cấp cơ sở cho điều trị; và xác định bệnh nhân có thể an toàn về nhà điều trị, nên ở lại để theo dõi trong quá trình điều trị, hoặc có thể cần nhập viện để điều trị tích cực.
Bù nước và duy trì tình trạng dịch
Mục tiêu điều trị là duy trì tình trạng dịch và xử trí mất cân bằng dịch và điện giải, chủ yếu dựa trên mức độ mất nước. Không nên dùng liệu pháp kháng sinh theo kinh nghiệm trừ khi bệnh nhân suy giảm miễn dịch.
Điều trị bằng thuốc
Dung dịch bù nước đường uống (ORS)
Công thức được Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) khuyến cáo là nồng độ natri 75 mEq/L và glucose 75 mmol/L với độ thẩm thấu toàn phần 245 mOsm/L, hoặc ½ thìa cà phê muối và 6 thìa cà phê đường trong 1 L nước. Cần có độ thẩm thấu thấp hơn với nồng độ natri và glucose giảm tương ứng. Công thức này đã được chứng minh là làm giảm nôn và nhu cầu truyền dịch tĩnh mạch.
Gastroenteritis - Viral_Management 1
Lượng ORS theo cân nặng và tuổi do Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) khuyến cáo như sau:
ORS là điều trị hàng đầu ưu tiên ở trẻ em mất nước nhẹ đến trung bình để bù dịch và điện giải. Phương pháp này hiệu quả tương đương với truyền dịch tĩnh mạch trong bù nước cho bệnh nhân mất nước nhẹ đến trung bình. Nôn dữ dội, liệt ruột bụng, thay đổi tình trạng tinh thần, bệnh lý đường tiêu hóa kèm lo ngại về hấp thu, và tình trạng sốc huyết động là chống chỉ định với ORS.
Dung dịch bù nước đường uống qua sonde mũi-dạ dày (NG)
Có thể dùng ORS qua sonde mũi-dạ dày cho bệnh nhân mất nước mức độ trung bình không dung nạp đường uống và cho trẻ quá yếu và từ chối uống, dẫn đến bù nước không đủ nếu chỉ bằng đường uống. Dùng qua sonde cho phép đưa ORS liên tục với lượng chậm và ổn định.
Dịch truyền tĩnh mạch (IV)
Gastroenteritis - Viral_Management 2
Truyền dịch tĩnh mạch (IV) được thực hiện trong 4-6 giờ hoặc đến khi đạt bù nước đầy đủ. Truyền dịch tĩnh mạch được khuyến cáo ở các bệnh nhân sau: Mất nước nặng; thất bại bù nước đường uống do nôn dữ dội hoặc đi ngoài phân lỏng quá nhiều; bệnh nhân có liệt ruột hoặc tắc ruột; và bệnh nhân trong tình trạng sốc hoặc thay đổi tình trạng tinh thần. Dung dịch nước muối và dung dịch Ringer lactat là các lựa chọn hiệu quả. Cần duy trì trạng thái bù nước bằng cách thay thế liên tục lượng dịch mất.
Mất nước nhẹ
Đối với mất nước nhẹ, dùng 50-100 mL ORS sau mỗi lần đi phân lỏng đối với trẻ <2 tuổi, 100-200 mL đối với trẻ 2-10 tuổi, hoặc lượng không giới hạn đối với trẻ >10 tuổi, hoặc 20 mL/kg cân nặng/giờ để thay thế lượng dịch thiếu hụt ước tính. Nhiều thử nghiệm ủng hộ việc sử dụng ORS qua sonde mũi-dạ dày ngay cả ở bệnh nhân nôn liên tục hoặc có loét miệng. Tiếp tục cho bú mẹ trong thời gian tiêu chảy hoặc cho ăn phù hợp với lứa tuổi ngay sau khi bù nước hoàn tất. Cũng có thể bù nhanh bằng truyền tĩnh mạch.
Mất nước trung bình đến nặng
Bắt đầu bù nước nhanh qua đường tĩnh mạch. Truyền tĩnh mạch 20 mL/kg cân nặng dung dịch Ringer lactat hoặc dung dịch muối đẳng trương (0,9% NaCl) cho đến khi mạch, tưới máu và tình trạng tinh thần trở về bình thường, sau đó truyền IV 100 mL/kg cân nặng ORS trong 4 giờ hoặc dung dịch dextrose 5% pha 1/2 muối đẳng trương với tốc độ gấp hai lần mức duy trì. Cách khác, truyền 100 mL/kg cân nặng. Sau đó, với trẻ <1 tuổi, truyền 30 mL/kg/cân nặng trong giờ đầu, tiếp theo là 70 mL/kg/cân nặng trong 5 giờ. Với trẻ >1 tuổi, có thể truyền IV 30 mL/kg/cân nặng trong 30 phút đầu, tiếp theo là 70 mL/kg/cân nặng trong 2,5 giờ. Đánh giá tình trạng bù nước mỗi 15-30 phút cho đến khi cải thiện, sau đó là mỗi giờ. Nên bắt đầu dùng ORS khi tình trạng bệnh nhân ổn định và cũng khuyến khích sớm việc cho ăn trở lại. Một nghiên cứu cho thấy dùng ORS có thể dẫn đến hết nhiễm toan nhanh hơn so với dịch truyền tĩnh mạch.
Điều trị hỗ trợ
Hiện không có liệu pháp kháng virus đặc hiệu. Dựa trên một số nghiên cứu đối chứng, các thuốc chống tiêu chảy không cho thấy lợi ích ở bệnh nhân viêm dạ dày ruột do virus.
Chất hấp phụ
Ví dụ: smectite (diosmectite)
Có thể cân nhắc chất hấp phụ trong điều trị viêm dạ dày-ruột cấp tính do virus ở trẻ em. Các nghiên cứu cho thấy smectite làm giảm thời gian tiêu chảy so với chăm sóc tiêu chuẩn hoặc giả dược.
Thuốc chống nôn
Ví dụ: ondansetron
Có thể dùng thuốc chống nôn ở trẻ ≥6 tháng tuổi bị mất nước nhẹ đến trung bình và nôn dữ dội và/hoặc dai dẳng làm cản trở liệu pháp bù nước đường uống, nhằm giảm nôn hoặc giúp tránh cần truyền dịch tĩnh mạch, nhưng có thể làm tăng số lần đi tiêu chảy.
Thuốc chống tiết
Ví dụ: eacecadotril
Có thể dùng thuốc chống tiết như một liệu pháp hỗ trợ trong tiêu chảy cấp tính, dùng trong 3 ngày đầu. Các nghiên cứu cho thấy giảm thời gian tiêu chảy và giảm lượng phân sau khi dùng racecadotril ở trẻ em bị tiêu chảy cấp.
Sữa non bò
Gastroenteritis - Viral_Management 3
Sữa non bò chứa các peptide kháng khuẩn (lactoferrin, lactoperoxidase), các cytokine điều hòa miễn dịch và viêm, và các yếu tố tăng trưởng có thể giúp cung cấp miễn dịch thụ động bằng cách tăng cường các chức năng miễn dịch khác nhau (ví dụ thực bào, trình diện kháng nguyên, hoạt tính kháng khuẩn qua cơ chế tạo phức chelate với kháng nguyên, kiểm soát viêm) tại đường tiêu hóa. Các nghiên cứu cho thấy sữa non bò giúp cải thiện triệu chứng lâm sàng (ví dụ giảm tần suất đi tiêu, giảm sự xuất hiện và thời gian tiêu chảy) ở trẻ bị tiêu chảy nhiễm trùng. Lợi ích lâm sàng của sữa non bò trong phòng ngừa và xử trí tiêu chảy nhiễm trùng hiện đang được thử nghiệm lâm sàng.
Probiotic
Probiotic có thể được dùng trong viêm dạ dày-ruột do rotavirus để giảm mức độ nặng và thời gian tiêu chảy cấp tính do nhiễm trùng ở trẻ em. Ví dụ về probiotic gồm Bifidobacterium spp., Lactobacillus spp. (tức là Lactobacillus rhamnosus, Lactobacillus reuteri [Limosilactobacillus reuteri]), và Saccharomyces boulardii.
Kẽm
Kẽm có thể làm giảm thời gian và mức độ nặng của bệnh tiêu chảy và giảm tỷ lệ mắc tiêu chảy trong 2-3 tháng tiếp theo nếu được dùng trong một đợt tiêu chảy. Với bệnh nhi đến 6 tháng tuổi, có thể dùng kẽm đường uống 10 mg/ngày trong 10-14 ngày. Với bệnh nhi ≥6 tháng tuổi, có thể dùng 20 mg/ngày, uống trong 10-14 ngày.
Thuốc đang nghiên cứu
Hiệp hội Tiêu hóa Gan mật và Dinh dưỡng Nhi khoa châu Âu (ESPGHAN) không đưa ra bất kỳ khuyến cáo nào về việc sử dụng prebiotic và synbiotic trong điều trị viêm dạ dày-ruột cấp tính. Sữa mẹ và gelatin tannate đang được nghiên cứu để đi đến kết luận về việc sử dụng trong xử trí viêm dạ dày-ruột.
Công thức được Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) khuyến cáo là nồng độ natri 75 mEq/L và glucose 75 mmol/L với độ thẩm thấu toàn phần 245 mOsm/L, hoặc ½ thìa cà phê muối và 6 thìa cà phê đường trong 1 L nước. Cần có độ thẩm thấu thấp hơn với nồng độ natri và glucose giảm tương ứng. Công thức này đã được chứng minh là làm giảm nôn và nhu cầu truyền dịch tĩnh mạch.
Gastroenteritis - Viral_Management 1Lượng ORS theo cân nặng và tuổi do Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) khuyến cáo như sau:
|
Cân nặng |
Tuổi |
Lượng (trong 4 giờ đầu) |
|
<5 kg (11 lb) |
<4 tháng |
200-400 mL |
|
5-7,9 kg (11 lb -17 lb, 7 oz) |
4-11 tháng |
400-600 mL |
|
8-10,9 kg (17 lb, 10 oz - 24 lb) |
12-23 tháng |
600-800 mL |
|
11-15,9 kg (24 lb, 4 oz - 35 lb) |
2-4 tuổi |
800-1.200 mL |
|
16-29,9 kg (35 lb, 4 oz - 65 lb, 15 oz) |
5-14 tuổi |
1.200-2.200 mL |
|
≥30 kg (≥66 lb, 2 oz) |
≥15 tuổi |
2.200-4.000 mL |
ORS là điều trị hàng đầu ưu tiên ở trẻ em mất nước nhẹ đến trung bình để bù dịch và điện giải. Phương pháp này hiệu quả tương đương với truyền dịch tĩnh mạch trong bù nước cho bệnh nhân mất nước nhẹ đến trung bình. Nôn dữ dội, liệt ruột bụng, thay đổi tình trạng tinh thần, bệnh lý đường tiêu hóa kèm lo ngại về hấp thu, và tình trạng sốc huyết động là chống chỉ định với ORS.
Dung dịch bù nước đường uống qua sonde mũi-dạ dày (NG)
Có thể dùng ORS qua sonde mũi-dạ dày cho bệnh nhân mất nước mức độ trung bình không dung nạp đường uống và cho trẻ quá yếu và từ chối uống, dẫn đến bù nước không đủ nếu chỉ bằng đường uống. Dùng qua sonde cho phép đưa ORS liên tục với lượng chậm và ổn định.
Dịch truyền tĩnh mạch (IV)
Gastroenteritis - Viral_Management 2Truyền dịch tĩnh mạch (IV) được thực hiện trong 4-6 giờ hoặc đến khi đạt bù nước đầy đủ. Truyền dịch tĩnh mạch được khuyến cáo ở các bệnh nhân sau: Mất nước nặng; thất bại bù nước đường uống do nôn dữ dội hoặc đi ngoài phân lỏng quá nhiều; bệnh nhân có liệt ruột hoặc tắc ruột; và bệnh nhân trong tình trạng sốc hoặc thay đổi tình trạng tinh thần. Dung dịch nước muối và dung dịch Ringer lactat là các lựa chọn hiệu quả. Cần duy trì trạng thái bù nước bằng cách thay thế liên tục lượng dịch mất.
Mất nước nhẹ
Đối với mất nước nhẹ, dùng 50-100 mL ORS sau mỗi lần đi phân lỏng đối với trẻ <2 tuổi, 100-200 mL đối với trẻ 2-10 tuổi, hoặc lượng không giới hạn đối với trẻ >10 tuổi, hoặc 20 mL/kg cân nặng/giờ để thay thế lượng dịch thiếu hụt ước tính. Nhiều thử nghiệm ủng hộ việc sử dụng ORS qua sonde mũi-dạ dày ngay cả ở bệnh nhân nôn liên tục hoặc có loét miệng. Tiếp tục cho bú mẹ trong thời gian tiêu chảy hoặc cho ăn phù hợp với lứa tuổi ngay sau khi bù nước hoàn tất. Cũng có thể bù nhanh bằng truyền tĩnh mạch.
Mất nước trung bình đến nặng
Bắt đầu bù nước nhanh qua đường tĩnh mạch. Truyền tĩnh mạch 20 mL/kg cân nặng dung dịch Ringer lactat hoặc dung dịch muối đẳng trương (0,9% NaCl) cho đến khi mạch, tưới máu và tình trạng tinh thần trở về bình thường, sau đó truyền IV 100 mL/kg cân nặng ORS trong 4 giờ hoặc dung dịch dextrose 5% pha 1/2 muối đẳng trương với tốc độ gấp hai lần mức duy trì. Cách khác, truyền 100 mL/kg cân nặng. Sau đó, với trẻ <1 tuổi, truyền 30 mL/kg/cân nặng trong giờ đầu, tiếp theo là 70 mL/kg/cân nặng trong 5 giờ. Với trẻ >1 tuổi, có thể truyền IV 30 mL/kg/cân nặng trong 30 phút đầu, tiếp theo là 70 mL/kg/cân nặng trong 2,5 giờ. Đánh giá tình trạng bù nước mỗi 15-30 phút cho đến khi cải thiện, sau đó là mỗi giờ. Nên bắt đầu dùng ORS khi tình trạng bệnh nhân ổn định và cũng khuyến khích sớm việc cho ăn trở lại. Một nghiên cứu cho thấy dùng ORS có thể dẫn đến hết nhiễm toan nhanh hơn so với dịch truyền tĩnh mạch.
Điều trị hỗ trợ
Hiện không có liệu pháp kháng virus đặc hiệu. Dựa trên một số nghiên cứu đối chứng, các thuốc chống tiêu chảy không cho thấy lợi ích ở bệnh nhân viêm dạ dày ruột do virus.
Chất hấp phụ
Ví dụ: smectite (diosmectite)
Có thể cân nhắc chất hấp phụ trong điều trị viêm dạ dày-ruột cấp tính do virus ở trẻ em. Các nghiên cứu cho thấy smectite làm giảm thời gian tiêu chảy so với chăm sóc tiêu chuẩn hoặc giả dược.
Thuốc chống nôn
Ví dụ: ondansetron
Có thể dùng thuốc chống nôn ở trẻ ≥6 tháng tuổi bị mất nước nhẹ đến trung bình và nôn dữ dội và/hoặc dai dẳng làm cản trở liệu pháp bù nước đường uống, nhằm giảm nôn hoặc giúp tránh cần truyền dịch tĩnh mạch, nhưng có thể làm tăng số lần đi tiêu chảy.
Thuốc chống tiết
Ví dụ: eacecadotril
Có thể dùng thuốc chống tiết như một liệu pháp hỗ trợ trong tiêu chảy cấp tính, dùng trong 3 ngày đầu. Các nghiên cứu cho thấy giảm thời gian tiêu chảy và giảm lượng phân sau khi dùng racecadotril ở trẻ em bị tiêu chảy cấp.
Sữa non bò
Gastroenteritis - Viral_Management 3Sữa non bò chứa các peptide kháng khuẩn (lactoferrin, lactoperoxidase), các cytokine điều hòa miễn dịch và viêm, và các yếu tố tăng trưởng có thể giúp cung cấp miễn dịch thụ động bằng cách tăng cường các chức năng miễn dịch khác nhau (ví dụ thực bào, trình diện kháng nguyên, hoạt tính kháng khuẩn qua cơ chế tạo phức chelate với kháng nguyên, kiểm soát viêm) tại đường tiêu hóa. Các nghiên cứu cho thấy sữa non bò giúp cải thiện triệu chứng lâm sàng (ví dụ giảm tần suất đi tiêu, giảm sự xuất hiện và thời gian tiêu chảy) ở trẻ bị tiêu chảy nhiễm trùng. Lợi ích lâm sàng của sữa non bò trong phòng ngừa và xử trí tiêu chảy nhiễm trùng hiện đang được thử nghiệm lâm sàng.
Probiotic
Probiotic có thể được dùng trong viêm dạ dày-ruột do rotavirus để giảm mức độ nặng và thời gian tiêu chảy cấp tính do nhiễm trùng ở trẻ em. Ví dụ về probiotic gồm Bifidobacterium spp., Lactobacillus spp. (tức là Lactobacillus rhamnosus, Lactobacillus reuteri [Limosilactobacillus reuteri]), và Saccharomyces boulardii.
Kẽm
Kẽm có thể làm giảm thời gian và mức độ nặng của bệnh tiêu chảy và giảm tỷ lệ mắc tiêu chảy trong 2-3 tháng tiếp theo nếu được dùng trong một đợt tiêu chảy. Với bệnh nhi đến 6 tháng tuổi, có thể dùng kẽm đường uống 10 mg/ngày trong 10-14 ngày. Với bệnh nhi ≥6 tháng tuổi, có thể dùng 20 mg/ngày, uống trong 10-14 ngày.
Thuốc đang nghiên cứu
Hiệp hội Tiêu hóa Gan mật và Dinh dưỡng Nhi khoa châu Âu (ESPGHAN) không đưa ra bất kỳ khuyến cáo nào về việc sử dụng prebiotic và synbiotic trong điều trị viêm dạ dày-ruột cấp tính. Sữa mẹ và gelatin tannate đang được nghiên cứu để đi đến kết luận về việc sử dụng trong xử trí viêm dạ dày-ruột.
Điều trị không dùng thuốc
Bù nước và duy trì tình trạng đủ nước
Liệu pháp bù nước đường uống bao gồm hai giai đoạn điều trị: Giai đoạn bù nước, trong đó chất điện giải và nước được dùng dưới dạng dung dịch bù nước đường uống để bù đắp phần dịch đã mất và nên được thực hiện nhanh trong vòng 3-4 giờ; và giai đoạn duy trì, trong đó bù đắp liên tục phần dịch và điện giải đang mất, và đảm bảo khẩu phần ăn đầy đủ. Khuyến cáo áp dụng chế độ ăn phù hợp theo lứa tuổi (bao gồm thức ăn đặc) để tái nuôi dưỡng nhanh khi đã đạt được mức độ cung cấp nước phù hợp. Nên tiếp tục cho bú mẹ, đặc biệt với bệnh nhi đang bú mẹ. Không cần thay đổi sữa công thức.
Liệu pháp dinh dưỡng
Gastroenteritis - Viral_Management 4
Liệu pháp dinh dưỡng phụ thuộc vào tuổi và tiền sử ăn uống. Bệnh nhi bú mẹ nên tiếp tục bú theo nhu cầu, trong khi bệnh nhi dùng sữa công thức cần tiếp tục dùng sữa công thức ở nồng độ thường dùng. Dựa trên nhiều thử nghiệm, cho ăn sữa công thức pha loãng liên quan đến kéo dài triệu chứng và chậm hồi phục dinh dưỡng. Sữa công thức không lactose được khuyến cáo ở bệnh nhân đã được ghi nhận không dung nạp lactose kéo dài và bệnh nhân có triệu chứng nặng cần nhập viện. Khuyến cáo cho trẻ ăn lại chế độ ăn thông thường của mình. Thực phẩm khuyến nghị bao gồm carbohydrate phức hợp, thịt nạc, sữa chua, trái cây và rau. Các chế độ ăn rất chuyên biệt (ví dụ chế độ BRAT [chuối, cơm, sốt táo và bánh mì nướng]) thường được khuyến nghị; tuy nhiên, chúng có thể cung cấp không đủ dinh dưỡng cho sự nuôi dưỡng của bệnh nhân và đường ruột đang hồi phục. Cần tránh thực phẩm có hàm lượng đường đơn cao.
Giáo dục bệnh nhân/cha mẹ
Gastroenteritis - Viral_Management 5
Viêm dạ dày-ruột do virus có khả năng lây nhiễm; do đó, khuyến cáo bệnh nhân không triệu chứng không nên chơi với bệnh nhân nhiễm bệnh. Trẻ có thể đến trường hoặc nhà trẻ miễn là phân được giữ trong tã, trẻ đã được tập ngồi bô và trẻ lớn không bị “tai nạn” khi dùng nhà vệ sinh, tần suất đi tiêu phân lỏng ít hơn hai lần so với tần suất đi tiêu bình thường của trẻ, và lần tiêu chảy hoặc nôn gần nhất cách hiện tại ≥48 giờ. Cần tuân thủ các biện pháp vệ sinh phù hợp (ví dụ rửa tay, vệ sinh nhà cửa) mọi lúc. Cần thực hiện các biện pháp chuẩn bị thực phẩm và bảo quản thực phẩm, nước uống cẩn thận. Cần tuân thủ các biện pháp phù hợp khi thay và thải bỏ tã (ví dụ tách biệt khu vực thay tã khỏi khu vực chuẩn bị thực phẩm, khử khuẩn đúng cách khu vực thay tã). Cũng cần khử khuẩn các vật dụng trung gian, vì đã ghi nhận lây lan virus từ các đồ vật này. Khuyên bệnh nhân không dùng nước ngọt có ga và nước trái cây có đường để bù nước, vì có thể gây tiêu chảy thẩm thấu. Uống lượng lớn nước lọc để bù nước cũng có thể gây hạ natri máu và hạ đường huyết.
Liệu pháp bù nước đường uống bao gồm hai giai đoạn điều trị: Giai đoạn bù nước, trong đó chất điện giải và nước được dùng dưới dạng dung dịch bù nước đường uống để bù đắp phần dịch đã mất và nên được thực hiện nhanh trong vòng 3-4 giờ; và giai đoạn duy trì, trong đó bù đắp liên tục phần dịch và điện giải đang mất, và đảm bảo khẩu phần ăn đầy đủ. Khuyến cáo áp dụng chế độ ăn phù hợp theo lứa tuổi (bao gồm thức ăn đặc) để tái nuôi dưỡng nhanh khi đã đạt được mức độ cung cấp nước phù hợp. Nên tiếp tục cho bú mẹ, đặc biệt với bệnh nhi đang bú mẹ. Không cần thay đổi sữa công thức.
Liệu pháp dinh dưỡng
Gastroenteritis - Viral_Management 4Liệu pháp dinh dưỡng phụ thuộc vào tuổi và tiền sử ăn uống. Bệnh nhi bú mẹ nên tiếp tục bú theo nhu cầu, trong khi bệnh nhi dùng sữa công thức cần tiếp tục dùng sữa công thức ở nồng độ thường dùng. Dựa trên nhiều thử nghiệm, cho ăn sữa công thức pha loãng liên quan đến kéo dài triệu chứng và chậm hồi phục dinh dưỡng. Sữa công thức không lactose được khuyến cáo ở bệnh nhân đã được ghi nhận không dung nạp lactose kéo dài và bệnh nhân có triệu chứng nặng cần nhập viện. Khuyến cáo cho trẻ ăn lại chế độ ăn thông thường của mình. Thực phẩm khuyến nghị bao gồm carbohydrate phức hợp, thịt nạc, sữa chua, trái cây và rau. Các chế độ ăn rất chuyên biệt (ví dụ chế độ BRAT [chuối, cơm, sốt táo và bánh mì nướng]) thường được khuyến nghị; tuy nhiên, chúng có thể cung cấp không đủ dinh dưỡng cho sự nuôi dưỡng của bệnh nhân và đường ruột đang hồi phục. Cần tránh thực phẩm có hàm lượng đường đơn cao.
Giáo dục bệnh nhân/cha mẹ
Gastroenteritis - Viral_Management 5Viêm dạ dày-ruột do virus có khả năng lây nhiễm; do đó, khuyến cáo bệnh nhân không triệu chứng không nên chơi với bệnh nhân nhiễm bệnh. Trẻ có thể đến trường hoặc nhà trẻ miễn là phân được giữ trong tã, trẻ đã được tập ngồi bô và trẻ lớn không bị “tai nạn” khi dùng nhà vệ sinh, tần suất đi tiêu phân lỏng ít hơn hai lần so với tần suất đi tiêu bình thường của trẻ, và lần tiêu chảy hoặc nôn gần nhất cách hiện tại ≥48 giờ. Cần tuân thủ các biện pháp vệ sinh phù hợp (ví dụ rửa tay, vệ sinh nhà cửa) mọi lúc. Cần thực hiện các biện pháp chuẩn bị thực phẩm và bảo quản thực phẩm, nước uống cẩn thận. Cần tuân thủ các biện pháp phù hợp khi thay và thải bỏ tã (ví dụ tách biệt khu vực thay tã khỏi khu vực chuẩn bị thực phẩm, khử khuẩn đúng cách khu vực thay tã). Cũng cần khử khuẩn các vật dụng trung gian, vì đã ghi nhận lây lan virus từ các đồ vật này. Khuyên bệnh nhân không dùng nước ngọt có ga và nước trái cây có đường để bù nước, vì có thể gây tiêu chảy thẩm thấu. Uống lượng lớn nước lọc để bù nước cũng có thể gây hạ natri máu và hạ đường huyết.
Phòng ngừa
Phòng ngừa hầu hết các trường hợp viêm dạ dày-ruột do virus phụ thuộc vào việc sử dụng vaccine an toàn và hiệu quả. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) khuyến cáo tiêm chủng rộng rãi ngừa rotavirus. Hiện có bốn vaccine có sẵn để phòng tiêu chảy nặng do nhiễm rotavirus. Nhiều nghiên cứu ủng hộ rằng tiêm chủng sớm giúp mô phỏng sự nhiễm tự nhiên lần đầu, từ đó ngăn ngừa các trường hợp viêm dạ dày-ruột do rotavirus nặng về sau. Vaccine chống norovirus hiện đang được phát triển, với kết quả ban đầu cho thấy khả năng dung nạp tốt ở trẻ em.
Vaccine rotavirus ở người
Gastroenteritis - Viral_Management 6
Vaccine rotavirus ở người chứa chủng rotavirus người giảm độc lực, sống. Vaccine này phòng viêm dạ dày-ruột do các kiểu gen thường gặp G1P[8], G2P[4], G3P[8], G4P[8] và G9P[8]. Hiệu quả cũng đã được chứng minh đối với các kiểu gen ít gặp hơn G9P[4] và G9P[6] và các kiểu gen hiếm G8P[4] (viêm dạ dày-ruột nặng) và G12P[6] (mọi mức độ viêm dạ dày-ruột). Dựa trên một nghiên cứu lâm sàng tại châu Á, vaccine cho thấy hiệu lực bảo vệ 100% chống viêm dạ dày-ruột nặng trong năm đầu đời, với hiệu lực duy trì đến 3 tuổi. Khuyến cáo tiêm theo phác đồ 2 liều bắt đầu từ 2 tháng tuổi, cách nhau 8 tuần.
Vaccine rotavirus ở người có thể được tiêm đồng thời với các vaccine sau mà không ảnh hưởng đến đáp ứng miễn dịch và hồ sơ an toàn của các vaccine được tiêm: Vaccine viêm gan B (HBV), vaccine bại liệt bất hoạt (IPV), vaccine Haemophilus influenzae týp b (Hib), vaccine liên hợp phế cầu (PCV), vaccine liên hợp não mô cầu nhóm C, vaccine bạch hầu-uốn ván-ho gà vô bào (DTPa/DTaP), vaccine bạch hầu-uốn ván-ho gà toàn tế bào (DTPwithDTwP), và các vaccine phối hợp 6 thành phần (DTPa-HBV-IPV/Hib). Tiêm đồng thời với vaccine bại liệt dạng uống (OPV) có thể làm giảm nhẹ đáp ứng miễn dịch với vaccine rotavirus; tuy nhiên, bảo vệ lâm sàng của vaccine rotavirus chống viêm dạ dày-ruột nặng sẽ không bị ảnh hưởng. Khuyến cáo nên cách nhau 2 tuần giữa hai vaccine.
Vaccine rotavirus ngũ giá
Vaccine rotavirus ngũ giá chứa các rotavirus tái tổ hợp sống, phát triển từ nguồn gốc người và bò. Vaccine này phòng viêm dạ dày-ruột do các týp huyết thanh G1P1A[8], G2P1[4], G3P1A[8], G4P1A[8] và G9P1A[8]. Hiệu quả trong phòng ngừa mọi mức độ nặng của viêm dạ dày-ruột đạt 72,5-74% dựa trên hai nghiên cứu thực hiện từ khi hoàn tất phác đồ 3 liều đến hết mùa rotavirus đầu tiên sau tiêm chủng. Hai thử nghiệm cũng cho thấy vaccine có hiệu quả lâm sàng 98-100% trong dự phòng các trường hợp nặng. Có giảm 95,8% trường hợp nhập viện do viêm dạ dày-ruột nặng trong 2 năm đầu sau liều cuối. Khuyến cáo tiêm theo phác đồ 3 liều bắt đầu từ 2 tháng tuổi, cách nhau 8 tuần.
Vaccine rotavirus ngũ giá có thể được tiêm đồng thời với các vaccine sau mà không ảnh hưởng đến đáp ứng miễn dịch của các vaccine được tiêm: HBV, IPV, OPV, Hib, PCV, DTPa, vaccine liên hợp não mô cầu nhóm C, và các vaccine 6 trong 1. Tiêm đồng thời với vaccine bại liệt dạng uống (OPV) có thể làm giảm đáp ứng miễn dịch với vaccine rotavirus; tuy nhiên, có bằng chứng cho thấy vẫn duy trì mức hiệu quả cao chống viêm dạ dày-ruột nặng. Khuyến cáo nên cách nhau 2 tuần giữa hai liều vaccine.
Các vaccine rotavirus khác
Các vaccine rotavirus khác bao gồm vaccine rotavirus cừu Lanzhou, vaccine rotavirus bò đường uống dạng ngũ giá, vaccine rotavirus ở người đường uống cho trẻ sơ sinh (RV3-BB), và vaccine rotavirus người giảm độc lực (G1P[8]) dạng đông khô và dạng lỏng. Một nghiên cứu tại Indonesia cho thấy RV3-BB có hiệu quả trong dự phòng viêm dạ dày-ruột nặng do rotavirus khi được dùng theo lịch tiêm chủng của sơ sinh/nhũ nhi tại Indonesia.
Bổ sung vitamin/khoáng chất
Có thể bổ sung kẽm cho trẻ từ 6 tháng đến 12 tuổi để phòng ngừa tiêu chảy cấp tính do nhiễm trùng. Có thể bổ sung vitamin A cho trẻ sơ sinh và trẻ em >6 tháng tuổi để phòng ngừa tiêu chảy cấp tính do nhiễm trùng.
Vaccine rotavirus ở người
Gastroenteritis - Viral_Management 6Vaccine rotavirus ở người chứa chủng rotavirus người giảm độc lực, sống. Vaccine này phòng viêm dạ dày-ruột do các kiểu gen thường gặp G1P[8], G2P[4], G3P[8], G4P[8] và G9P[8]. Hiệu quả cũng đã được chứng minh đối với các kiểu gen ít gặp hơn G9P[4] và G9P[6] và các kiểu gen hiếm G8P[4] (viêm dạ dày-ruột nặng) và G12P[6] (mọi mức độ viêm dạ dày-ruột). Dựa trên một nghiên cứu lâm sàng tại châu Á, vaccine cho thấy hiệu lực bảo vệ 100% chống viêm dạ dày-ruột nặng trong năm đầu đời, với hiệu lực duy trì đến 3 tuổi. Khuyến cáo tiêm theo phác đồ 2 liều bắt đầu từ 2 tháng tuổi, cách nhau 8 tuần.
Vaccine rotavirus ở người có thể được tiêm đồng thời với các vaccine sau mà không ảnh hưởng đến đáp ứng miễn dịch và hồ sơ an toàn của các vaccine được tiêm: Vaccine viêm gan B (HBV), vaccine bại liệt bất hoạt (IPV), vaccine Haemophilus influenzae týp b (Hib), vaccine liên hợp phế cầu (PCV), vaccine liên hợp não mô cầu nhóm C, vaccine bạch hầu-uốn ván-ho gà vô bào (DTPa/DTaP), vaccine bạch hầu-uốn ván-ho gà toàn tế bào (DTPwithDTwP), và các vaccine phối hợp 6 thành phần (DTPa-HBV-IPV/Hib). Tiêm đồng thời với vaccine bại liệt dạng uống (OPV) có thể làm giảm nhẹ đáp ứng miễn dịch với vaccine rotavirus; tuy nhiên, bảo vệ lâm sàng của vaccine rotavirus chống viêm dạ dày-ruột nặng sẽ không bị ảnh hưởng. Khuyến cáo nên cách nhau 2 tuần giữa hai vaccine.
Vaccine rotavirus ngũ giá
Vaccine rotavirus ngũ giá chứa các rotavirus tái tổ hợp sống, phát triển từ nguồn gốc người và bò. Vaccine này phòng viêm dạ dày-ruột do các týp huyết thanh G1P1A[8], G2P1[4], G3P1A[8], G4P1A[8] và G9P1A[8]. Hiệu quả trong phòng ngừa mọi mức độ nặng của viêm dạ dày-ruột đạt 72,5-74% dựa trên hai nghiên cứu thực hiện từ khi hoàn tất phác đồ 3 liều đến hết mùa rotavirus đầu tiên sau tiêm chủng. Hai thử nghiệm cũng cho thấy vaccine có hiệu quả lâm sàng 98-100% trong dự phòng các trường hợp nặng. Có giảm 95,8% trường hợp nhập viện do viêm dạ dày-ruột nặng trong 2 năm đầu sau liều cuối. Khuyến cáo tiêm theo phác đồ 3 liều bắt đầu từ 2 tháng tuổi, cách nhau 8 tuần.
Vaccine rotavirus ngũ giá có thể được tiêm đồng thời với các vaccine sau mà không ảnh hưởng đến đáp ứng miễn dịch của các vaccine được tiêm: HBV, IPV, OPV, Hib, PCV, DTPa, vaccine liên hợp não mô cầu nhóm C, và các vaccine 6 trong 1. Tiêm đồng thời với vaccine bại liệt dạng uống (OPV) có thể làm giảm đáp ứng miễn dịch với vaccine rotavirus; tuy nhiên, có bằng chứng cho thấy vẫn duy trì mức hiệu quả cao chống viêm dạ dày-ruột nặng. Khuyến cáo nên cách nhau 2 tuần giữa hai liều vaccine.
Các vaccine rotavirus khác
Các vaccine rotavirus khác bao gồm vaccine rotavirus cừu Lanzhou, vaccine rotavirus bò đường uống dạng ngũ giá, vaccine rotavirus ở người đường uống cho trẻ sơ sinh (RV3-BB), và vaccine rotavirus người giảm độc lực (G1P[8]) dạng đông khô và dạng lỏng. Một nghiên cứu tại Indonesia cho thấy RV3-BB có hiệu quả trong dự phòng viêm dạ dày-ruột nặng do rotavirus khi được dùng theo lịch tiêm chủng của sơ sinh/nhũ nhi tại Indonesia.
Bổ sung vitamin/khoáng chất
Có thể bổ sung kẽm cho trẻ từ 6 tháng đến 12 tuổi để phòng ngừa tiêu chảy cấp tính do nhiễm trùng. Có thể bổ sung vitamin A cho trẻ sơ sinh và trẻ em >6 tháng tuổi để phòng ngừa tiêu chảy cấp tính do nhiễm trùng.
