Biến chứng
Bệnh trào ngược dạ dày thực quản kháng trị
Bệnh trào ngược dạ dày thực quản kháng trị là tình trạng các triệu chứng trào ngược dạ dày thực quản gây khó chịu dai dẳng ở những bệnh nhân tuân thủ điều trị, bất chấp điều trị chuẩn hoặc dùng thuốc ức chế bơm proton hai lần mỗi ngày trong ít nhất 8 tuần. Các triệu chứng gây khó chịu làm suy giảm chất lượng cuộc sống của bệnh nhân và có thể gây rối loạn giấc ngủ và ảnh hưởng công việc. Bệnh nhân trào ngược không ăn mòn thường có các triệu chứng trào ngược dạ dày thực quản kháng thuốc ức chế bơm proton. Nguyên nhân bao gồm ức chế acid không đầy đủ, trào ngược acid yếu/không acid, nhạy cảm với trào ngược hoặc các nguyên nhân không do trào ngược khác như ợ nóng chức năng, rối loạn nhu động và viêm thực quản tăng bạch cầu ái toan, hoặc hội chứng chồng lấp với hội chứng ruột kích thích và tăng cảm nội tạng. Đáp ứng với điều trị thuốc ức chế bơm proton suy giảm cũng có thể liên quan đến tăng cân nặng và kiểu gen của hệ P450 ảnh hưởng đến chuyển hóa thuốc ức chế bơm proton. Cân nhắc đánh giá thêm ở những bệnh nhân không đáp ứng với liệu pháp thuốc ức chế bơm proton, có thể bao gồm nội soi đường tiêu hóa trên có hoặc không có tăng cường hình ảnh và các thăm dò chức năng (theo dõi pH lưu động và đo trở kháng-pH kết hợp 24 giờ/đo vận động thực quản). Bệnh nhân nghi ngờ có triệu chứng ngoài thực quản và thất bại với liệu pháp thuốc ức chế bơm proton nên được đánh giá loại trừ các nguyên nhân không do trào ngược dạ dày thực quản trước khi bắt đầu đánh giá đường tiêu hóa bằng nội soi hoặc thăm dò chức năng. Các lựa chọn điều trị cần cân nhắc bao gồm tăng liều thuốc ức chế bơm proton, chuyển sang thuốc ức chế bơm proton khác hoặc thuốc ức chế acid cạnh tranh kali, tăng gấp đôi liều thuốc ức chế acid cạnh tranh kali, thay đổi thời điểm dùng thuốc, hoặc thêm một thuốc tăng nhu động, alginate hoặc một thuốc chẹn thụ thể H2 vào ban đêm.
Bệnh trào ngược dạ dày thực quản kháng trị là tình trạng các triệu chứng trào ngược dạ dày thực quản gây khó chịu dai dẳng ở những bệnh nhân tuân thủ điều trị, bất chấp điều trị chuẩn hoặc dùng thuốc ức chế bơm proton hai lần mỗi ngày trong ít nhất 8 tuần. Các triệu chứng gây khó chịu làm suy giảm chất lượng cuộc sống của bệnh nhân và có thể gây rối loạn giấc ngủ và ảnh hưởng công việc. Bệnh nhân trào ngược không ăn mòn thường có các triệu chứng trào ngược dạ dày thực quản kháng thuốc ức chế bơm proton. Nguyên nhân bao gồm ức chế acid không đầy đủ, trào ngược acid yếu/không acid, nhạy cảm với trào ngược hoặc các nguyên nhân không do trào ngược khác như ợ nóng chức năng, rối loạn nhu động và viêm thực quản tăng bạch cầu ái toan, hoặc hội chứng chồng lấp với hội chứng ruột kích thích và tăng cảm nội tạng. Đáp ứng với điều trị thuốc ức chế bơm proton suy giảm cũng có thể liên quan đến tăng cân nặng và kiểu gen của hệ P450 ảnh hưởng đến chuyển hóa thuốc ức chế bơm proton. Cân nhắc đánh giá thêm ở những bệnh nhân không đáp ứng với liệu pháp thuốc ức chế bơm proton, có thể bao gồm nội soi đường tiêu hóa trên có hoặc không có tăng cường hình ảnh và các thăm dò chức năng (theo dõi pH lưu động và đo trở kháng-pH kết hợp 24 giờ/đo vận động thực quản). Bệnh nhân nghi ngờ có triệu chứng ngoài thực quản và thất bại với liệu pháp thuốc ức chế bơm proton nên được đánh giá loại trừ các nguyên nhân không do trào ngược dạ dày thực quản trước khi bắt đầu đánh giá đường tiêu hóa bằng nội soi hoặc thăm dò chức năng. Các lựa chọn điều trị cần cân nhắc bao gồm tăng liều thuốc ức chế bơm proton, chuyển sang thuốc ức chế bơm proton khác hoặc thuốc ức chế acid cạnh tranh kali, tăng gấp đôi liều thuốc ức chế acid cạnh tranh kali, thay đổi thời điểm dùng thuốc, hoặc thêm một thuốc tăng nhu động, alginate hoặc một thuốc chẹn thụ thể H2 vào ban đêm.
