Suy tim - Cấp tính Đánh giá ban đầu

Cập nhật: 14 May 2025

Biểu hiện lâm sàng

Chẩn đoán suy tim cấp dựa trên các phát hiện lâm sàng, hỗ trợ bởi các thăm dò cận lâm sàng thích hợp được thực hiện khẩn trương sau tiếp xúc ban đầu với bệnh nhân, đồng thời xác định các bệnh nhân trong tình trạng sốc tim và suy hô hấp.

Suy tim

Suy tim dẫn đến các bất thường thần kinh-thể dịch và tuần hoàn gây ra các biểu hiện sau: Khó thở khi nghỉ hoặc gắng sức; mệt mỏi không giải thích được; giảm khả năng gắng sức hoặc tăng thời gian hồi phục sau gắng sức; khó thở khi nằm; khó thở khi cúi người (bendopnea); khó thở kịch phát về đêm (PND) hoặc ho về đêm; ho hoặc khò khè; hồi hộp đánh trống ngực; chán ăn, buồn nôn, nôn, đau bụng, đầy bụng, nhanh no, hoặc cổ trướng; phù ngoại vi và sưng mắt cá chân; lú lẫn, mất định hướng, suy giảm nhận thức; yếu, hoặc trầm cảm (đặc biệt ở người cao tuổi); tăng cân (>2 kg/tuần); sụt cân (trong suy tim giai đoạn tiến triển); và ngất. Các dấu hiệu đặc hiệu hơn điển hình của suy tim bao gồm tăng áp lực tĩnh mạch cổ, phản xạ gan‑tĩnh mạch cổ, ran phổi, mỏm tim lệch trái, và hiện diện tiếng T3 (tiếng ngựa phi).

Heart Failure - Acute_Initial Assesment 1Heart Failure - Acute_Initial Assesment 1


Suy tim cấp tính

Suy tim cấp đặc trưng bởi sung huyết phổi, giảm cung lượng tim, và giảm tưới máu mô. Hầu hết bệnh nhân suy tim cấp tính có huyết áp (HA) bình thường hoặc tăng kèm với các dấu hiệu và/hoặc triệu chứng sung huyết thay vì cung lượng tim thấp. Đây là tình trạng đe dọa tính mạng cần được chăm sóc y tế ngay lập tức.

Chỉ định nhập viện bao gồm chẩn đoán mới suy tim với triệu chứng tiến triển nhanh, sung huyết nặng (ví dụ cổ trướng, phù chân rõ, phù tầng sinh môn hoặc bìu) hoặc bệnh lý có độ phức tạp cao. Tình trạng này có thể là thoáng qua và sẽ hồi phục khi hội chứng cấp tính được giải quyết hoặc cũng có thể gây tổn thương vĩnh viễn dẫn đến suy tim mạn.

Tiền sử

Bệnh nhân có thể biểu hiện suy tim mới khởi phát hoặc suy tim mạn tiến triển mất bù cấp tính. Bệnh nhân thường than phiền khó thở tiến triển, đầy bụng hoặc đau tức bụng, sưng mắt cá chân, tiểu đêm, và triệu chứng thần kinh (ví dụ lú lẫn, mất định hướng). Sốc tim có thể xuất hiện ở bệnh nhân suy tim mất bù cấp tính.

Khám thực thể

Heart Failure - Acute_Initial Assesment 2Heart Failure - Acute_Initial Assesment 2


Khám thực thể bao gồm đo các dấu hiệu sinh tồn (ví dụ huyết áp thấp hoặc cao, nhịp tim chậm, nhịp tim nhanh với mạch luân phiên, mạch không đều, thở nhanh, tăng công thở, ngưng thở hoặc thở nông với tần số thở <8 lần/phút dù khó thở, không chịu được tư thế nằm ngửa) và chỉ số khối cơ thể (BMI). Đánh giá tình trạng huyết động, nhịp tim, và mức độ khó thở để xác định mức độ mất ổn định tim phổi. Khám tìm tiếng thổi, mỏm tim lệch sang bên hoặc nổi rõ, tiếng T3, và thành phần phổi của tiếng T2 tăng; khám tim kết quả bình thường có thể gặp trong suy tim do rối loạn chức năng tâm trương. Giảm tưới máu là tình trạng cung lượng thấp thường do suy bơm (ví dụ chi lạnh ẩm, thiểu niệu, hiệu áp hẹp, thay đổi tri giác, chóng mặt, và thời gian làm đầy mao mạch >2 giây). Tình trạng này thường đi kèm nhưng không đồng nghĩa với hạ huyết áp. Sung huyết có thể là quá tải thể tích bên trái (ran ẩm hai phế trường, phù ngoại vi hai bên [ví dụ mắt cá, cùng cụt, bìu]) hoặc bên phải (tăng áp lực tĩnh mạch cổ, phù ngoại vi hai bên, gan to, cổ trướng, phản xạ gan‑tĩnh mạch cổ).

Dựa trên khám thực thể, suy tim cấp tính có thể được phân loại dựa trên sự hiện diện hoặc không hiện diện của sung huyết (ướt hoặc khô) và/hoặc giảm tưới máu (lạnh hoặc ấm).
  • Ấm-khô (warm-dry): Không có cả giảm tưới máu và sung huyết
  • Ấm-ướt (warm-wet): Có sung huyết nhưng không giảm tưới máu
  • Lạnh-khô (cold-dry): Có giảm tưới máu nhưng không sung huyết
  • Lạnh-ướt (cold-wet): Có cả giảm tưới máu và sung huyết