Giám sát
Theo dõi bệnh nhân
Đánh giá chỉ số khối cơ thể (BMI) và tình trạng dinh dưỡng nên được thực hiện khi chẩn đoán. Nên theo dõi hemoglobin, tình trạng sắt, folate huyết thanh và vitamin D huyết thanh. Cân nhắc theo dõi nồng độ vi chất dinh dưỡng trong giai đoạn thuyên giảm trên lâm sàng và hóa sinh. Ở trẻ em, theo dõi chiều cao và cân nặng; ở người lớn, theo dõi cân nặng. Đáp ứng điều trị nên được đánh giá dựa trên kết hợp các thông số lâm sàng, nội soi và dấu ấn xét nghiệm (ví dụ CRP và calprotectin trong phân). Ở bệnh nhân có đáp ứng lâm sàng với điều trị nội khoa, tình trạng lành niêm mạc nên được xác định bằng nội soi hoặc qua nồng độ calprotectin trong phân vào 3–6 tháng sau khi khởi trị. Ở bệnh nhân có bệnh còn hoạt động dai dẳng, có triệu chứng mới không rõ nguyên nhân hoặc tái phát nặng, và trước khi chuyển sang liệu pháp khác, nên đánh giá lại qua nội soi.
Theo dõi tần suất tái phát (mô hình bệnh), được thực hiện trong 3 năm đầu: liên tục, nếu có triệu chứng dai dẳng không thuyên giảm; thường xuyên, nếu ≥2 đợt tái phát/năm; và ít, nếu ≤1 đợt tái phát/năm.
QUẢN LÝ NỘI TRÚ VIÊM LOÉT ĐẠI TRÀNG NẶNG
Theo dõi bệnh nhân
Khám thực thể hàng ngày để đánh giá tình trạng đau khi ấn thành bụng và đau phản hồi. Ghi chép các lần đi tiêu để theo dõi số lần và đặc điểm phân. Nên chụp X-quang bụng mỗi ngày nếu phát hiện giãn đại tràng lúc nhập viện. Chuyển khoa phẫu thuật ngay lập tức nếu có dấu hiệu phình đại tràng nhiễm độc. Đánh giá lại một cách khách quan vào ngày thứ ba của đợt điều trị tích cực, đồng thời cân nhắc phẫu thuật cắt đại tràng hoặc điều trị bằng ciclosporin tĩnh mạch hoặc infliximab.
Bệnh Crohn
Theo dõi bệnh nhân
Đánh giá BMI và tình trạng dinh dưỡng nên được thực hiện khi chẩn đoán. Nên theo dõi hemoglobin, tình trạng sắt, folate huyết thanh và vitamin D huyết thanh. Cân nhắc theo dõi nồng độ vi chất dinh dưỡng trong giai đoạn thuyên giảm trên lâm sàng và sinh hóa. Ở trẻ em, theo dõi chiều cao và cân nặng; ở người lớn, theo dõi cân nặng. Nên theo dõi tình trạng vitamin B12, đặc biệt khi có cắt bỏ hồi tràng. Đáp ứng lâm sàng và sinh hóa với liệu pháp nên được đánh giá trong vòng 12 tuần sau khi bắt đầu điều trị. Đáp ứng trên nội soi hoặc xuyên thành (bằng siêu âm ruột, chụp cộng hưởng từ ruột hoặc nội soi viên nang ruột non) với liệu pháp nên được xác định trong vòng 6 tháng sau khi bắt đầu điều trị. Ở bệnh nhân có bệnh còn hoạt động dai dẳng, xuất hiện triệu chứng mới không giải thích được hoặc tái phát, và trước khi chuyển sang liệu pháp khác, có thể cân nhắc đánh giá lại bằng nội soi hoặc các thủ thuật hình ảnh cắt lớp. Nên theo dõi biến chứng ngoài thành ruột (ví dụ lỗ rò và áp xe) bằng chẩn đoán hình ảnh cắt lớp (siêu âm ruột hoặc chụp cộng hưởng từ) kết hợp với các thông số lâm sàng và xét nghiệm. Việc đánh giá bệnh Crohn quanh hậu môn và đóng lỗ rò nên được thực hiện bằng đánh giá lâm sàng kết hợp với nội soi trực tràng và MRI.
Đánh giá bệnh Crohn quanh hậu môn và đóng lỗ rò nên được thực hiện bằng đánh giá lâm sàng kết hợp với nội soi trực tràng và cộng hưởng từ. Nên cân nhắc theo dõi nồng độ thuốc điều trị hoặc đánh giá nồng độ thuốc ức chế TNF và kháng thể kháng thuốc ở bệnh nhân có bệnh Crohn còn hoạt động mặc dù đã điều trị ức chế TNF để xác định thất bại về mặt sinh học. Thất bại về mặt sinh học được phân loại thành thất bại do miễn dịch, thất bại do cơ chế hoạt động hoặc thất bại không do miễn dịch. Thất bại do miễn dịch xảy ra khi bệnh nhân có nồng độ đáy của thuốc thấp hoặc không xác định được và có lượng cao kháng thể chống thuốc. Nồng độ đáy mục tiêu để có tác dụng điều trị tối thiểu là: adalimumab >7,5 mcg/mL, certolizumab pegol >20 mcg/mL và infliximab >5 mcg/mL. Bệnh nhân với tiền sử có kháng thể anti-TNF có nguy cơ cao hình thành kháng thể kháng thuốc với thuốc khác thuộc cùng nhóm điều trị. Nên cân nhắc liệu pháp kết hợp với thuốc điều biến miễn dịch như thiopurine hoặc methotrexate ở những bệnh nhân này. Thất bại do cơ chế hoạt động xảy ra khi bệnh nhân có loét niêm mạc hoạt động và nồng độ thuốc trong khoảng điều trị nhưng không có kháng thể. Ở những bệnh nhân này, nên cân nhắc thuốc thuộc nhóm khác với cơ chế tác dụng khác. Thất bại không do miễn dịch xảy ra khi bệnh nhân có nồng độ đáy của thuốc dưới ngưỡng điều trị và không có kháng thể kháng thuốc. Tình trạng này do thuốc bị thanh thải nhanh trong bối cảnh gánh nặng viêm cao. Quản lý trường hợp này bằng cách tối ưu hóa liều gồm tăng liều hoặc rút ngắn khoảng cách giữa các lần dùng thuốc.
Theo dõi bệnh nhân không có triệu chứng lâm sàng
Nên theo dõi mỗi 3–6 tháng ở bệnh nhân viêm ruột mạn tính không có triệu chứng lâm sàng và có thuyên giảm trên sinh hóa, để phát hiện tái phát bệnh. Calprotectin trong phân có thể giúp phát hiện tái phát trước khi xuất hiện triệu chứng lâm sàng. Ở bệnh nhân không triệu chứng có bất thường thông số sinh hóa sau khi đã loại trừ nhiễm trùng, nên tiến hành nội soi hoặc chẩn đoán hình ảnh cắt lớp. Hoạt động bệnh nên được đánh giá bằng kết hợp các chỉ số lâm sàng và sinh hóa, nội soi và/hoặc chẩn đoán hình ảnh cắt lớp, trước khi giảm mức độ hoặc ngưng điều trị duy trì cho viêm ruột mạn tính. Khuyến nghị đánh giá hoạt động bệnh bằng nội soi ở bệnh nhân Crohn ở giai đoạn thuyên giảm trước khi ngừng liệu pháp. Một phân tích gộp cho thấy ngưng liệu pháp đơn trị bằng thuốc điều hòa miễn dịch sau khi đạt thuyên giảm liên quan đến khoảng 75% bệnh nhân tái phát trong vòng 5 năm sau khi ngưng thuốc.
Inflammatory Bowel Disease_Management 17Theo dõi bệnh nhân có triệu chứng lâm sàng
Bệnh nhân nghi ngờ tái phát cấp tính viêm ruột mạn tính nên được đánh giá về nhiễm trùng, bao gồm loại trừ nhiễm C. difficile. Nhiễm C. difficile liên quan đến kết cục kém hơn ở viêm loét đại tràng, bao gồm tăng tỷ lệ cắt bỏ đại tràng và biến chứng sau khi mổ. Xét nghiệm CMV chỉ thực hiện khi bệnh kháng với steroid. Một phân tích gộp cho thấy nhiễm CMV trong viêm ruột mạn tính liên quan đến thời gian bệnh kéo dài hơn, giảm hiệu quả của corticosteroid và tăng tỷ lệ cắt bỏ đại tràng. Nên xét nghiệm phân kiểm tra trứng, nang và ký sinh trùng và huyết thanh để chẩn đoán Strongyloides trước khi nâng bậc liệu pháp nếu tiền sử đi du lịch gợi ý khả năng nhiễm. Nội soi đại tràng hỗng tràng là tiêu chuẩn vàng để đánh giá hoạt động của bệnh đại tràng ở bệnh nhân bệnh Crohn có triệu chứng hoặc viêm loét đại tràng. Phương pháp này cho phép quan sát trực tiếp niêm mạc đại tràng và hồi tràng cuối và cho phép đánh giá mô bệnh học cũng như can thiệp điều trị. Ở bệnh nhân có triệu chứng ở ruột non, có thể sử dụng chẩn đoán hình ảnh cắt lớp (IUS, MR ruột và/hoặc SBCE). Đây là phương pháp bổ trợ cho đánh giá kiểu hình và có thể thay thế nội soi đại tràng-hỗng tràng để đánh giá hoạt động của bệnh đại tràng ở bệnh nhân có bệnh Crohn hoặc viêm loét đại tràng có triệu chứng. Nên cân nhắc nội soi đại tràng sigma mềm nếu triệu chứng gợi ý đợt cấp nặng của viêm loét đại tràng.
Chiến lược theo dõi dựa trên dấu ấn sinh học, bao gồm theo dõi triệu chứng và dấu ấn viêm, được khuyến nghị cho bệnh nhân viêm loét đại tràng có thuyên giảm triệu chứng và ở bệnh nhân viêm loét đại tràng hoạt động có triệu chứng, để xác định đáp ứng điều trị. Phương pháp này có ưu điểm là cho tiên lượng chính xác hơn so với chỉ dựa trên triệu chứng, dẫn đến quyết định điều trị tối ưu và giảm nguy cơ biến chứng. Theo dõi dấu ấn sinh học có thể thực hiện mỗi 6-12 tháng ở bệnh nhân viêm loét đại tràng có triệu chứng thuyên giảm. Có thể sử dụng dấu ấn sinh học trong phân (ví dụ calprotectin hoặc lactoferrin trong phân) để theo dõi, đặc biệt ở bệnh nhân đã có mối tương quan trước đó giữa dấu ấn sinh học và hoạt động của bệnh trên nội soi. Nghiên cứu cho thấy calprotectin trong phân có tương quan tốt với hoạt động của bệnh trên nội soi ở cả bệnh Crohn và viêm loét đại tràng. Calprotectin trong phân >150 μg/g, lactoferrin trong phân tăng hoặc CRP tăng có thể dùng để xác định viêm hoạt động ở bệnh nhân viêm loét đại tràng có triệu chứng trung bình đến nặng gợi ý đợt cấp. Cần điều chỉnh điều trị và có thể tránh việc đánh giá nội soi định kỳ hoạt động bệnh. Calprotectin trong phân <150 μg/g, lactoferrin phân bình thường hoặc CRP bình thường thì loại trừ viêm đang hoạt động và không cần thực hiện định kỳ đánh giá nội soi. Ngưỡng calprotectin trong phân <50 μg/g có thể dùng để phát hiện cải thiện trên nội soi ở bệnh nhân đã đạt thuyên giảm về triệu chứng sau khi điều chỉnh điều trị trong 1-3 tháng gần nhất.
Khuyến cáo đánh giá bằng nội soi về hoạt động của bệnh ở bệnh nhân viêm loét đại tràng có triệu chứng thuyên giảm và dấu ấn sinh học trong phân hoặc huyết thanh tăng (ví dụ calprotectin trong phân >150 μg/g, lactoferrin trong phân tăng, CRP tăng). Có thể lặp lại việc đo dấu ấn sinh học trong 3–6 tháng như phương án thay thế cho nội soi, nhưng nội soi vẫn được khuyến nghị nếu dấu ấn sinh học tăng khi đánh giá lại. Cũng nên đánh giá bằng nội soi về hoạt động của bệnh ở bệnh nhân viêm loét đại tràng có triệu chứng nhẹ với dấu ấn viêm trong phân hoặc huyết thanh bình thường (calprotectin trong phân <150 μg/g, lactoferrin trong phân bình thường, CRP bình thường).
Nên đánh giá các thông số về kém hấp thu định kỳ ở tất cả bệnh nhân viêm ruột mạn tính. Nên đo cân nặng và ghi nhận ở mỗi lần khám. Bệnh nhân nên được sàng lọc về thiếu máu. Bệnh nhân có triệu chứng gợi ý bệnh đang hoạt động nên được sàng lọc về thiếu máu mỗi 3 tháng. Nên đo nồng độ vitamin B12 và acid folic mỗi 3-6 tháng ở bệnh nhân có bệnh ở ruột non hoặc đã từng cắt ruột. Khuyến nghị đo vitamin D ở bệnh nhân có triệu chứng và đánh giá lại sau điều trị để kiểm tra nồng độ đã trở về bình thường hay chưa.
Theo dõi sau phẫu thuật
Nội soi đại tràng-hồi tràng là tiêu chuẩn tham chiếu để chẩn đoán tái phát sau khi phẫu thuật nối hồi tràng-đại tràng và được khuyến nghị thực hiện trong 6–12 tháng đầu sau khi mổ. Tỷ lệ tái phát sau khi cắt bỏ hồi tràng-manh tràng được ghi nhận khoảng 65–90% trong vòng 12 tháng nếu không điều trị. Có thể xem xét các phương pháp thay thế không xâm lấn như calprotectin trong phân, IUS, MR ruột và SBCE để đánh giá tái phát sau phẫu thuật, đặc biệt sau khi cắt ruột non. Triệu chứng liên quan đến túi hồi tràng có thể được đánh giá qua nội soi kèm sinh thiết.
Biến chứng
Hẹp lòng ruột
Có thể sử dụng chẩn đoán hình ảnh cắt lớp, ưu tiên MRI hoặc IUS, để phát hiện hẹp ở ruột non. Ở bệnh Crohn, hẹp thường là xuyên thành và có tỷ lệ giữa mô viêm và mô xơ thay đổi. Hẹp đại tràng nên được đánh giá để loại trừ bệnh ác tính và nên cân nhắc phẫu thuật.
Lỗ rò và áp xe
Có thể phát hiện lỗ rò và áp xe trong khoang bụng bằng chẩn đoán hình ảnh cắt lớp. MRI được ưu tiên vì có thể phát hiện lỗ rò và áp xe sâu hoặc lỗ rò vùng chậu. Nếu nghi ngờ áp xe quanh hậu môn, nên thực hiện khám có gây mê (EUA) kèm dẫn lưu. Ở bệnh nhân có bệnh Crohn quanh hậu môn, cần đánh giá bằng nội soi trực tràng để xác định chiến lược điều trị phù hợp nhất.
Biến chứng túi hồi tràng
Các biến chứng sau phẫu thuật nối hồi tràng với trực tràng (IPAA) có thể là viêm hoặc không viêm, bao gồm áp xe, lỗ rò, ống xoang và hẹp. Chẩn đoán hình ảnh cắt lớp và nội soi là các phương pháp bổ trợ để đánh giá biến chứng cấu trúc nghi ngờ sau khi thực hiện IPAA. Có thể thực hiện chụp X-quang túi hồi tràng để đánh giá rối loạn chức năng và các biến chứng khác.
Biến chứng cần cấp cứu
X-quang bụng thông thường là phương thức chẩn đoán đầu tiên được chấp nhận trong viêm đại tràng nặng cấp tính để phát hiện phình đại tràng nhiễm độc. Phình đại tràng nhiễm độc được xác nhận trên X-quang bụng thông thường khi giãn đại tràng ngang >5,5 cm. Chụp cắt lớp vi tính được khuyến cáo khi nghi ngờ có thủng ruột ở bệnh nhân đau bụng cấp tính và đã xác định chẩn đoán bệnh viêm ruột.
Biến chứng sau phẫu thuật
Chụp cắt lớp vi tính được khuyến cáo để khảo sát các biến chứng cấp tính sau phẫu thuật như rò và áp xe đoạn nối. Siêu âm có thể được sử dụng thay thế nhưng phải kịp thời chụp CT ngay khi kết quả âm tính hoặc không rõ ràng.
THEO DÕI UNG THƯ ĐẠI TRỰC TRÀNG (CRC)
Inflammatory Bowel Disease_Follow UpBệnh nhân viêm loét đại tràng và bệnh Crohn có nguy cơ cao bị ung thư đại trực tràng, nhưng dữ liệu về nguy cơ ở viêm loét đại tràng nhiều hơn ở bệnh Crohn. Nguy cơ ung thư đại trực tràng ở bệnh viêm ruột liên quan với cả thời gian và phạm vi bệnh cũng như mức độ viêm mô học theo thời gian. Bệnh nhân viêm loét đại tràng có tiền sử gia đình bị ung thư đại trực tràng có nguy cơ phát triển thành ung thư cao gấp năm lần. Bệnh nhân có kèm viêm đường mật xơ cứng nguyên phát có nguy cơ phát triển ung thư đại trực tràng tăng 31%. Bệnh nhân bệnh Crohn có lỗ rò quanh hậu môn dai dẳng >10 năm được xem là có nguy cơ cao phát triển thành ung thư hậu môn trực tràng và rò hậu môn liên quan đến bệnh Crohn gây rò quanh hậu môn, bao gồm ung thư biểu mô tế bào vảy ở hậu môn hoặc ung thư biểu mô tuyến. Cần đánh giá ung thư hậu môn trực tràng và rò hậu môn liên quan đến bệnh Crohn gây rò quanh hậu môn ở bệnh nhân có triệu chứng quanh hậu môn tiến triển hoặc kháng trị (ví dụ chảy dịch, đau, hẹp, sưng). Nội soi đại tràng theo dõi nên bắt đầu sau 8–10 năm chẩn đoán ở bệnh nhân viêm loét đại tràng hoặc bệnh Crohn bất kể mức độ bệnh ở thời điểm chẩn đoán. Nội soi theo dõi tốt nhất nên được thực hiện khi bệnh đại tràng đang trong giai đoạn thuyên giảm. Khuyến cáo nhuộm toàn đại tràng và sinh thiết có định vị khu vực bất thường. Nội soi đại tràng nhuộm màu phối hợp sinh thiết có định vị đã cho thấy tăng tỷ lệ phát hiện loạn sản và ưu việt so với nội soi ánh sáng trắng. Có thể dùng nội soi ánh sáng trắng nhưng nên sinh thiết ngẫu nhiên (4 mẫu sinh thiết theo tứ giác mỗi 10 cm) và sinh thiết định vị bất kỳ tổn thương nhìn thấy được nào. Một số phương pháp dùng để đánh giá ung thư hậu môn trực tràng và rò hậu môn liên quan đến bệnh Crohn gây rò quanh hậu môn bao gồm MRI vùng chậu và thăm khám có gây mê kết hợp sinh thiết. Lặp lại nội soi đại tràng nhuộm màu kèm sinh thiết ngẫu nhiên được khuyến cáo trong 3–6 tháng ở bệnh nhân đã xác định có loạn sản ở niêm mạc mức độ thấp mà không có tổn thương nhìn thấy được qua nội soi. Nếu phát hiện polyp loạn sản trong vùng bị viêm và có thể loại bỏ, không khuyến cáo cắt đại tràng thường quy. Bệnh nhân đã cắt qua nội soi tổn thương dạng polyp có nguy cơ phát triển thêm loạn sản cao gấp khoảng 10 lần và nên theo dõi bằng nội soi nhuộm màu sau 1–6 tháng, sau đó là hàng năm.
Bệnh nhân viêm loét đại tràng có loạn sản không phải polyp không thể cắt qua nội soi, thì khuyến cáo mổ cắt đại tràng ngay lập tức, bất kể tỷ lệ loạn sản được xác định qua sinh thiết. Bệnh nhân bệnh Crohn có tổn thương loạn sản nhìn thấy được qua nội soi nên được cắt bỏ toàn bộ qua nội soi. Bệnh nhân bệnh Crohn có loạn sản nhìn thấy được và không thể cắt bỏ qua nội soi, hoặc có nhiều ổ loạn sản, hoặc đã được chẩn đoán ung thư đại trực tràng, được khuyến cáo cắt toàn bộ đại tràng kèm nối hồi tràng-trực tràng hoặc cắt toàn bộ đại tràng-trực tràng. Nhiều hiệp hội chủ chốt có khuyến cáo khác nhau về chiến lược tối ưu để theo dõi ung thư đại tràng ở bệnh nhân có bệnh viêm ruột.
| Tổ chức | Viêm loét đại tràng |
| American Gastroenterological Association (AGA) 2021 |
Khuyến cáo theo dõi bằng nội soi đại tràng:
|
| American College of Gastroenterology (ACG) 2019 |
|
| American Society for Gastrointestinal Endoscopy (ASGE) 2015 |
Khuyến cáo theo dõi bằng nội soi đại tràng:
|
| British Society of Gastroenterology (BSG) 2019 |
Khuyến cáo theo dõi bằng nội soi đại tràng:
Khuyến cáo sinh thiết có định vị qua nội soi thay vì sinh thiết ngẫu nhiên; nếu sinh thiết ngẫu nhiên thì lấy 2–4 mẫu ngẫu nhiên mỗi 10 cm. Nội soi đại tràng sigma để theo dõi niêm mạc túi/trực tràng hàng năm ở bệnh nhân sau khi cắt đại tràng và có nguy cơ cao; nếu không có yếu tố nguy cơ thì 5 năm một lần. |
| European Crohn’s and Colitis Organisation (ECCO) 2022 |
Khuyến cáo theo dõi bằng nội soi đại tràng hàng năm ở bệnh nhân đang có viêm đường mật xơ cứng nguyên phát, bất kể hoạt động, phạm vi và thời gian bệnh.
|
| National Comprehensive Cancer Network (NCCN) 2023 |
Khuyến cáo theo dõi bằng nội soi đại tràng sau 8 năm kể từ khi khởi phát triệu chứng
Có thể thực hiện nội soi ánh sáng trắng độ nét cao hoặc phun thuốc nhuộm hoặc nội soi nhuộm màu ảo độ nét cao kết hợp với sinh thiết định vị bao gồm lấy mẫu từ các vị trí hẹp hoặc khối. Nội soi ánh sáng trắng độ nét tiêu chuẩn có thể được thực hiện nhưng phải kèm nội soi nhuộm màu. |
