Content:
Giới thiệu
Nội dung của trang này:
Giới thiệu
Dịch tễ học
Sinh bệnh học
Yếu tố nguy cơ
Nội dung của trang này:
Giới thiệu
Dịch tễ học
Sinh bệnh học
Yếu tố nguy cơ
Giới thiệu
Viêm phổi mắc phải trong bệnh viện (HAP) còn được gọi là viêm phổi bệnh viện. Nó được định nghĩa là viêm phổi xảy ra ≥48 giờ sau khi nhập viện và loại trừ bất kỳ nhiễm trùng nào đang trong giai đoạn ủ bệnh tại thời điểm nhập viện. Viêm phổi liên quan đến thở máy (VAP) được mô tả là viêm phổi xảy ra >48-72 giờ sau khi đặt nội khí quản và trong vòng 48 giờ sau khi rút ống nội khí quản (ET).
Đa kháng thuốc (MDR) được định nghĩa là sự không nhạy cảm mắc phải với ít nhất một thuốc ở ba nhóm kháng sinh khác nhau. Đa kháng thuốc rộng (XDR) đề cập đến sự không nhạy cảm với ít nhất một thuốc ở tất cả ngoại trừ hai nhóm kháng sinh. Đa kháng tất cả thuốc (PDR) đề cập đến sự không nhạy cảm với tất cả các tác nhân kháng khuẩn có thể sử dụng cho điều trị.
Đa kháng thuốc (MDR) được định nghĩa là sự không nhạy cảm mắc phải với ít nhất một thuốc ở ba nhóm kháng sinh khác nhau. Đa kháng thuốc rộng (XDR) đề cập đến sự không nhạy cảm với ít nhất một thuốc ở tất cả ngoại trừ hai nhóm kháng sinh. Đa kháng tất cả thuốc (PDR) đề cập đến sự không nhạy cảm với tất cả các tác nhân kháng khuẩn có thể sử dụng cho điều trị.
Dịch tễ học
Viêm phổi mắc phải trong bệnh viện là một trong những nguyên nhân phổ biến nhất gây nhiễm khuẩn bệnh viện ở bệnh nhân nội trú và bệnh nhân chăm sóc tích cực. HAP phổ biến hơn ở người cao tuổi; tuy nhiên, tuổi trung bình của bệnh nhân mắc HAP khởi phát sớm thấp hơn so với bệnh nhân mắc HAP khởi phát muộn.
Dữ liệu dịch tễ học ở châu Á về viêm phổi mắc phải trong bệnh viện còn hạn chế nhưng các cơ sở y tế khác nhau báo cáo tỷ lệ mắc từ 1 đến 21 trên 1.000 lượt nhập viện.
Dữ liệu dịch tễ học ở châu Á về viêm phổi mắc phải trong bệnh viện còn hạn chế nhưng các cơ sở y tế khác nhau báo cáo tỷ lệ mắc từ 1 đến 21 trên 1.000 lượt nhập viện.
Sinh bệnh học
Viêm phổi mắc phải trong bệnh viện phát triển do mất cân bằng giữa cơ chế phòng vệ bình thường của cơ thể và khả năng cư trú và xâm nhập đường hô hấp dưới của vi sinh vật. Vi khuẩn gram âm hiếu khí có thể gây tổn thương phá hủy mô phổi như hoại tử tạo hang, hình thành áp xe nhỏ, xâm nhập mạch máu và chảy máu.
Yếu tố nguy cơ
Yếu tố nguy cơ đối với viêm phổi mắc phải trong bệnh viện (HAP)/viêm phổi liên quan đến thở máy (VAP):
- Liên quan đến bệnh nhân: Tuổi, bệnh phổi mạn tính, suy đa tạng, ý thức giảm
- Liên quan đến điều trị: Đặt ống nội khí quản/thông khí cơ học, tái đặt ống nội khí quản, đặt ống nội khí quản kéo dài, đã dùng kháng sinh trước đó, phẫu thuật lồng ngực-bụng
- Yếu tố kích thích hít sặc: Tư thế, đặt sonde dạ dày, nuôi ăn qua ống, áp lực ống nội khí quản (ET) thấp
- Vi khuẩn cư trú ở hầu họng
- Thời gian nằm viện hiện tại ≥5 ngày trước khi khởi phát VAP
- Sốc nhiễm trùng vào thời điểm mắc HAP/VAP
- Hội chứng suy hô hấp cấp tiến triển (ARDS) trước VAP
- Điều trị thay thế thận cấp trước khi khởi phát VAP
- Dùng kháng sinh đường tĩnh mạch (IV) trong 90 ngày trước đó (yếu tố nguy cơ cho MDR, Staphylococcus aureus kháng methicillin - (MRSA) và VAP/HAP do Pseudomonas đa kháng thuốc)
- Nhập đơn vị chăm sóc tích cực (ICU)
- Bệnh cấu trúc phổi (ví dụ giãn phế quản, xơ nang) đối với HAP
- Có cư trú hoặc đã phân lập được Pseudomonas đa kháng thuốc (MDR) hoặc các trực khuẩn gram âm khác
