Content:
Giám sát
Nội dung của trang này:
Giám sát
Nội dung của trang này:
Giám sát
Giám sát
ĐÁNH GIÁ THÊM CHO BỆNH NHÂN CÓ ĐÁP ỨNG VỚI ĐIỀU TRỊ
Thời gian điều trị
Điều trị khởi đầu theo kinh nghiệm nên được kéo dài trong 7 ngày. Nếu phát hiện tác nhân đa kháng thuốc, bệnh nhân nên được điều trị lâu hơn, lên đến 14 ngày. Các nghiên cứu cho thấy bệnh nhân nhận điều trị khởi đầu theo kinh nghiệm thích hợp cho VAP trong 7-8 ngày có kết quả tương đương (tỷ lệ tử vong, tái phát bệnh, thất bại điều trị, thời gian nằm viện) với bệnh nhân được điều trị trong 10-15 ngày. Nếu phác đồ kết hợp có chứa aminoglycoside, có thể ngừng aminoglycoside sau 5-7 ngày ở bệnh nhân có đáp ứng. Quyết định ngừng kháng sinh nên dựa trên đánh giá lâm sàng kèm theo các dấu ấn sinh học (ví dụ procalcitonin (PCT), protein C phản ứng (CRP), copeptin, tiền thân peptide natriuretic nhĩ vùng giữa (MR-proANP)). Các dấu ấn này giúp giảm thời gian tiếp xúc với kháng sinh.
Bệnh nhân cải thiện lâm sàng sau 48-72 giờ và có kết quả cấy âm tính
Ở những bệnh nhân này, nên cân nhắc ngừng kháng sinh. Quyết định phụ thuộc vào tiến triển lâm sàng của bệnh nhân, loại mẫu thu được và kết quả báo cáo là định lượng hay bán định lượng
Bệnh nhân cải thiện lâm sàng sau 48-72 giờ và có kết quả cấy dương tính
Nếu có thể, xuống thang kháng sinh dựa trên kết quả cấy
ĐÁNH GIÁ THÊM CHO BỆNH NHÂN KHÔNG ĐÁP ỨNG VỚI ĐIỀU TRỊ
Nếu bệnh nhân không đáp ứng với điều trị khởi đầu hoặc đang nhanh chóng suy giảm, nên cân nhắc mở rộng phổ kháng khuẩn trong khi chờ kết quả cấy và các xét nghiệm chẩn đoán. Các bệnh nhân này cần được đánh giá lại, bao gồm chẩn đoán phân biệt cẩn thận và lấy lại mẫu dịch tiết đường hô hấp dưới để cấy và làm kháng sinh đồ.
Bệnh nhân không cải thiện lâm sàng sau 48-72 giờ và có kết quả cấy âm tính
Đánh giá các tác nhân khác hoặc biến chứng. Tìm kiếm các ổ nhiễm trùng khác. Xem xét các chẩn đoán khác có thể gây ra triệu chứng.
Bệnh nhân không cải thiện lâm sàng sau 48-72 giờ và có kết quả cấy dương tính
Điều chỉnh kháng sinh dựa trên kết quả cấy. Đánh giá các tác nhân khác hoặc biến chứng. Nghi ngờ các vi sinh vật kháng thuốc. Tìm kiếm các ổ nhiễm trùng khác. Xem xét các chẩn đoán khác có thể gây ra triệu chứng.
Thời gian điều trị
Điều trị khởi đầu theo kinh nghiệm nên được kéo dài trong 7 ngày. Nếu phát hiện tác nhân đa kháng thuốc, bệnh nhân nên được điều trị lâu hơn, lên đến 14 ngày. Các nghiên cứu cho thấy bệnh nhân nhận điều trị khởi đầu theo kinh nghiệm thích hợp cho VAP trong 7-8 ngày có kết quả tương đương (tỷ lệ tử vong, tái phát bệnh, thất bại điều trị, thời gian nằm viện) với bệnh nhân được điều trị trong 10-15 ngày. Nếu phác đồ kết hợp có chứa aminoglycoside, có thể ngừng aminoglycoside sau 5-7 ngày ở bệnh nhân có đáp ứng. Quyết định ngừng kháng sinh nên dựa trên đánh giá lâm sàng kèm theo các dấu ấn sinh học (ví dụ procalcitonin (PCT), protein C phản ứng (CRP), copeptin, tiền thân peptide natriuretic nhĩ vùng giữa (MR-proANP)). Các dấu ấn này giúp giảm thời gian tiếp xúc với kháng sinh.
Bệnh nhân cải thiện lâm sàng sau 48-72 giờ và có kết quả cấy âm tính
Ở những bệnh nhân này, nên cân nhắc ngừng kháng sinh. Quyết định phụ thuộc vào tiến triển lâm sàng của bệnh nhân, loại mẫu thu được và kết quả báo cáo là định lượng hay bán định lượng
Bệnh nhân cải thiện lâm sàng sau 48-72 giờ và có kết quả cấy dương tính
Nếu có thể, xuống thang kháng sinh dựa trên kết quả cấy
ĐÁNH GIÁ THÊM CHO BỆNH NHÂN KHÔNG ĐÁP ỨNG VỚI ĐIỀU TRỊ
Nếu bệnh nhân không đáp ứng với điều trị khởi đầu hoặc đang nhanh chóng suy giảm, nên cân nhắc mở rộng phổ kháng khuẩn trong khi chờ kết quả cấy và các xét nghiệm chẩn đoán. Các bệnh nhân này cần được đánh giá lại, bao gồm chẩn đoán phân biệt cẩn thận và lấy lại mẫu dịch tiết đường hô hấp dưới để cấy và làm kháng sinh đồ.
Bệnh nhân không cải thiện lâm sàng sau 48-72 giờ và có kết quả cấy âm tính
Đánh giá các tác nhân khác hoặc biến chứng. Tìm kiếm các ổ nhiễm trùng khác. Xem xét các chẩn đoán khác có thể gây ra triệu chứng.
Bệnh nhân không cải thiện lâm sàng sau 48-72 giờ và có kết quả cấy dương tính
Điều chỉnh kháng sinh dựa trên kết quả cấy. Đánh giá các tác nhân khác hoặc biến chứng. Nghi ngờ các vi sinh vật kháng thuốc. Tìm kiếm các ổ nhiễm trùng khác. Xem xét các chẩn đoán khác có thể gây ra triệu chứng.
