Bệnh viêm ruột Tổng quan về bệnh

Cập nhật: 05 August 2025

Giới thiệu

Bệnh viêm ruột (IBD) bao gồm viêm loét đại tràng (UC) và bệnh Crohn (CD). Viêm loét đại tràng là viêm niêm mạc lan tỏa giới hạn ở đại tràng. Bệnh Crohn là viêm xuyên thành, tổn thương không liên tục, có thể xảy ra ở bất kỳ phần nào của đường tiêu hóa nhưng thường gặp nhất ở hồi tràng và đại tràng.

Inflammatory Bowel Disease_Disease BackgroundInflammatory Bowel Disease_Disease Background

Dịch tễ học

IBD ảnh hưởng khoảng 7 triệu người trên toàn cầu. Tỷ lệ hiện mắc viêm loét đại tràng được ước tính là 100–200/100.000 với tỷ lệ mới mắc hàng năm là 10–20/100.000. Tỷ lệ hiện mắc bệnh Crohn được ước tính là 50–100/100.000 với tỷ lệ mới mắc hàng năm là 5–10/100.000. Độ tuổi khởi phát IBD từ 15–30 tuổi. Bệnh Crohn khởi phát ở người lớn thường gặp ở nữ, trong khi viêm loét đại tràng gặp ở nam nhiều hơn.

Tỷ lệ hiện mắc và mới mắc IBD ở châu Á và Trung Đông thấp hơn so với Bắc Mỹ. Tuy nhiên, IBD có xu hướng gia tăng ở châu Á do công nghiệp hóa nhanh. Tỷ lệ mới mắc viêm loét đại tràng ở các nước Đông Á dao động 0,95–12,2/100.000 người-năm, trong khi tỷ lệ mới mắc bệnh Crohn ở khu vực này lên đến 2,42/100.000 người-năm. Kiểu hình bệnh Crohn đặc trưng ưu thế ở nam và tỷ lệ rò hậu môn cao đã được xác định ở người châu Á.

Sinh lý bệnh

IBD liên quan đến các yếu tố môi trường phức tạp, biểu mô, di truyền, miễn dịch và vi sinh. Bệnh xảy ra ở cá thể có tính nhạy cảm di truyền, do rối loạn đáp ứng miễn dịch bẩm sinh và miễn dịch mắc phải đối với vi sinh vật đường ruột. Các yếu tố môi trường tác động trực tiếp lên ruột hoặc thông qua hệ vi sinh đường ruột, đóng vai trò thúc đẩy khả năng gây bệnh của chúng vào các con đường sinh lý bệnh với hệ vi sinh đường ruột làm trung gian. Yếu tố vi sinh và môi trường trực tiếp ảnh hưởng đến dấu ấn biểu sinh, tế bào biểu mô ruột và hệ miễn dịch bẩm sinh, gây ra các đợt bùng phát lặp lại tại cùng vị trí ruột dù đã thuyên giảm và sau khi niêm mạc đã lành hoàn toàn. Các yếu tố môi trường, hệ vi sinh đường ruột và kháng nguyên từ thức ăn có thể gây rò rỉ hàng rào bảo vệ hoặc xâm nhập qua vết rò rỉ vào lớp mô dưới niêm mạc sâu hơn và ở cá thể có tính nhạy cảm di truyền, các biến đổi biểu sinh dẫn đến rối loạn điều hòa đáp ứng miễn dịch bẩm sinh và miễn dịch mắc phải, gây viêm ruột mạn tính. Quá trình sinh bệnh liên quan đến sản xuất quá mức interleukin (IL)-17 do tế bào Th17 tiết ra. Tế bào Th17 đóng vai trò quan trọng trong khởi phát và duy trì viêm ruột mạn tính ở bệnh nhân IBD.

Yếu tố nguy cơ

Hút thuốc là yếu tố nguy cơ cho bệnh Crohn nhưng có tác dụng bảo vệ viêm loét đại tràng qua cơ chế chưa rõ. Tiếp xúc với khói trước sinh có liên quan đến nguy cơ IBD ở con. Hầu hết bệnh nhân được chẩn đoán IBD ở độ tuổi 15–35. Bệnh khởi phát sớm (<40 tuổi) có diễn tiến nặng hơn và tiên lượng kém hơn, cần nhiều thuốc điều hòa miễn dịch và can thiệp phẫu thuật hơn so với khởi phát muộn. Viêm loét đại tràng ảnh hưởng ở cả nam và nữ như nhau, trong khi bệnh Crohn phổ biến hơn ở nữ. Tiền sử gia đình và các đợt viêm dạ dày ruột do vi khuẩn như SalmonellaCampylobacter cũng là yếu tố nguy cơ quan trọng. Việc sử dụng thuốc kháng viêm không steroid (NSAID) có thể làm trầm trọng thêm viêm loét đại tràng. Cắt ruột thừa do viêm trong giai đoạn trẻ nhỏ hoặc thanh thiếu niên liên quan đến giảm nguy cơ viêm loét đại tràng ở tuổi trưởng thành. Các yếu tố lối sống như căng thẳng, lo âu và thiếu hoạt động thể chất được cho là liên quan đến nguy cơ IBD.