Xét nghiệm và hỗ trợ chẩn đoán
Thủ thuật chẩn đoán
Nội soi thực quản-dạ dày-tá tràng (EGD)
Nội soi thực quản-dạ dày-tá tràng (EGD) trong trường hợp PUD không biến chứng có vai trò chính là xác nhận chẩn đoán và loại trừ ung thư. Phương pháp này giúp phát hiện loét dạ dày và loét tá tràng cũng như các tổn thương ác tính với độ nhạy và độ đặc hiệu khoảng 90%. Loét liên quan đến NSAID thường biểu hiện dưới dạng vết loét nông, phẳng ở hang vị dạ dày với các tổn thương đi kèm. EGD được khuyến cáo ở bệnh nhân có dấu hiệu xuất huyết, thiếu máu, sụt cân >10%, PUD mạn tính, nôn kéo dài, hoặc bất kỳ dấu hiệu báo động nào gợi ý tổn thương cấu trúc quan trọng hoặc bệnh ác tính (ví dụ khó nuốt, đau khi nuốt, no sớm, khối u ổ bụng, hạch to hoặc tiền sử ung thư trước đó); ở bệnh nhân mà triệu chứng không đáp ứng với điều trị dược lý; và ở bệnh nhân trên 50 tuổi mới khởi phát khó tiêu.
Nội soi thực quản-dạ dày-tá tràng có thể được sử dụng để theo dõi các ổ loét. Cần cân nhắc chỉ định này ở bệnh nhân loét tá tràng có triệu chứng dai dẳng mặc dù đã được điều trị thích hợp. EGD có thể loại trừ loét dạ dày-tá tràng kháng trị và các ổ loét không có nguồn gốc từ dạ dày tá tràng. Tuy nhiên, hiệu quả phát hiện của xét nghiệm này có thể thấp nếu triệu chứng của bệnh nhân đã hết sau một đợt điều trị ức chế acid kết hợp diệt vi khuẩn H. pylori và ngừng NSAID. EGD có thể phát hiện ung thư dạ dày giai đoạn sớm ở bệnh nhân loét dạ dày, từ đó cải thiện tiên lượng sống. Chỉ định nội soi nên phụ thuộc vào nguy cơ loét dạ dày của bệnh nhân. Cần cân nhắc ở bệnh nhân loét dạ dày không rõ nguyên nhân và ở những trường hợp chưa làm sinh thiết trong lần EGD đầu tiên. EGD cũng nên được thực hiện ở bệnh nhân PUD kháng trị cho đến khi vết loét lành hoặc nguyên nhân được xác định.
Nội soi thực quản-dạ dày-tá tràng cho phép sinh thiết tổn thương. Chỉ định này dành cho loét dạ dày có đặc điểm nghi ngờ ác tính (ví dụ có khối u kèm theo, bờ loét gồ ghề không đều và nếp gấp niêm mạc bất thường xung quanh). Giám sát bằng EGD có sinh thiết được khuyến cáo cho mọi trường hợp loét dạ dày ngay cả khi không có đặc điểm ác tính do nguy cơ phát triển ung thư cao hơn. Nguy cơ ung thư dạ dày tăng 3-6 lần khi bị loét liên quan H. pylori. Ban đầu, một số loét ác tính có thể biểu hiện lành tính khi nội soi. Có khoảng 2-5% loét ác tính có kết quả sinh thiết âm tính giả. Những ổ loét không lành sau 8-12 tuần điều trị nội khoa nên được sinh thiết lại. Xét nghiệm chải tế bào thường quy có thể tăng độ nhạy nhưng không được khuyến cáo là phương pháp thay thế hoặc bổ trợ cho sinh thiết nội soi.
Peptic Ulcer Disease_Diagnostics 1
Nội soi thực quản-dạ dày-tá tràng còn được sử dụng để chẩn đoán, tiên lượng và điều trị biến chứng của PUD. Trong PUD có xuất huyết, EGD thực hiện trong vòng 24 giờ kể từ khi nhập viện đã cho thấy giúp giảm nhu cầu truyền máu, rút ngắn thời gian nằm tại khoa hồi sức tích cực (ICU) và tổng thời gian nằm viện, giảm nhu cầu phẫu thuật và giảm tỷ lệ tử vong. Những bệnh nhân có nguy cơ tái xuất huyết cao trên nội soi (ví dụ có cục máu đông bám, lộ mạch máu, đang chảy máu động mạch) nên được điều trị nội soi (ví dụ kẹp clip, điện đông lưỡng cực, đầu dò nhiệt, tiêm chất xơ) để đạt được cầm máu và giảm nguy cơ tái xuất huyết. Phương pháp cầm máu nội soi bằng cách tiêm epinephrine nên được thực hiện theo sau các biện pháp khác (ví dụ keo fibrin, thrombin, ethanol). Cần lặp lại điều trị nội soi trước khi cân nhắc can thiệp phẫu thuật hoặc xạ hình can thiệp ở bệnh nhân tái xuất huyết sau điều trị nội soi lần đầu. EGD cho phép xác định loét thâm nhiễm sang các cơ quan lân cận như gan và lách, thông qua sinh thiết lấy qua ống nội soi. Điều này quan trọng trong việc xác nhận sự hiện diện và phân biệt tắc nghẽn lành tính và tắc nghẽn ác tính. Nong bằng bóng nội soi đã được sử dụng để điều trị tắc môn vị lành tính, mang lại hiệu quả tốt đến rất tốt trong giảm triệu chứng ngắn hạn ở 67-83% bệnh nhân.
Lấy mẫu mô qua nội soi để làm xét nghiệm mô bệnh học và nuôi cấy hoặc test nhanh urease để phát hiện H. pylori cũng có thể được thực hiện. Xét nghiệm này chống chỉ định ở bệnh nhân bị loét dạ dày-tá tràng có thủng cấp tính. Trong một số nghiên cứu, nội soi chỉ có vai trò hạn chế trong xác định vị trí thủng và hướng dẫn khâu mạc nối nội soi sau đó.
Xét nghiệm cận lâm sàng
Các xét nghiệm cận lâm sàng có vai trò hạn chế trong đánh giá những bệnh nhân PUD không biến chứng. Nồng độ gastrin huyết thanh lúc đói có thể được đo ở bệnh nhân loét tá tràng khi nghi ngờ có các chẩn đoán khác (ví dụ hội chứng Zollinger-Ellison).,
Xét nghiệm tìm H. pylori được khuyến cáo cho tất cả bệnh nhân bị loét dạ dày tá tràng để chẩn đoán và quản lý nhiễm trùng đồng mắc và có thể bao gồm test nhanh urease, xét nghiệm ELISA huyết thanh học (kháng thể IgG), test urea hơi thở hoặc xét nghiệm tìm kháng nguyên trong phân. Chiến lược “xét nghiệm và điều trị” được khuyến cáo ở khu vực có tỷ lệ nhiễm H. pylori >10% và ở bệnh nhân có tiền sử hoặc đang mắc PUD, bệnh u lympho mô bạch huyết liên quan niêm mạc dạ dày mức độ thấp (MALT lymphoma), hoặc có tiền sử cắt bỏ ung thư dạ dày giai đoạn sớm bằng nội soi. Không khuyến cáo sàng lọc thường quy H. pylori cho những người không có triệu chứng.
Nội soi thực quản-dạ dày-tá tràng (EGD)
Nội soi thực quản-dạ dày-tá tràng (EGD) trong trường hợp PUD không biến chứng có vai trò chính là xác nhận chẩn đoán và loại trừ ung thư. Phương pháp này giúp phát hiện loét dạ dày và loét tá tràng cũng như các tổn thương ác tính với độ nhạy và độ đặc hiệu khoảng 90%. Loét liên quan đến NSAID thường biểu hiện dưới dạng vết loét nông, phẳng ở hang vị dạ dày với các tổn thương đi kèm. EGD được khuyến cáo ở bệnh nhân có dấu hiệu xuất huyết, thiếu máu, sụt cân >10%, PUD mạn tính, nôn kéo dài, hoặc bất kỳ dấu hiệu báo động nào gợi ý tổn thương cấu trúc quan trọng hoặc bệnh ác tính (ví dụ khó nuốt, đau khi nuốt, no sớm, khối u ổ bụng, hạch to hoặc tiền sử ung thư trước đó); ở bệnh nhân mà triệu chứng không đáp ứng với điều trị dược lý; và ở bệnh nhân trên 50 tuổi mới khởi phát khó tiêu.
Nội soi thực quản-dạ dày-tá tràng có thể được sử dụng để theo dõi các ổ loét. Cần cân nhắc chỉ định này ở bệnh nhân loét tá tràng có triệu chứng dai dẳng mặc dù đã được điều trị thích hợp. EGD có thể loại trừ loét dạ dày-tá tràng kháng trị và các ổ loét không có nguồn gốc từ dạ dày tá tràng. Tuy nhiên, hiệu quả phát hiện của xét nghiệm này có thể thấp nếu triệu chứng của bệnh nhân đã hết sau một đợt điều trị ức chế acid kết hợp diệt vi khuẩn H. pylori và ngừng NSAID. EGD có thể phát hiện ung thư dạ dày giai đoạn sớm ở bệnh nhân loét dạ dày, từ đó cải thiện tiên lượng sống. Chỉ định nội soi nên phụ thuộc vào nguy cơ loét dạ dày của bệnh nhân. Cần cân nhắc ở bệnh nhân loét dạ dày không rõ nguyên nhân và ở những trường hợp chưa làm sinh thiết trong lần EGD đầu tiên. EGD cũng nên được thực hiện ở bệnh nhân PUD kháng trị cho đến khi vết loét lành hoặc nguyên nhân được xác định.
Nội soi thực quản-dạ dày-tá tràng cho phép sinh thiết tổn thương. Chỉ định này dành cho loét dạ dày có đặc điểm nghi ngờ ác tính (ví dụ có khối u kèm theo, bờ loét gồ ghề không đều và nếp gấp niêm mạc bất thường xung quanh). Giám sát bằng EGD có sinh thiết được khuyến cáo cho mọi trường hợp loét dạ dày ngay cả khi không có đặc điểm ác tính do nguy cơ phát triển ung thư cao hơn. Nguy cơ ung thư dạ dày tăng 3-6 lần khi bị loét liên quan H. pylori. Ban đầu, một số loét ác tính có thể biểu hiện lành tính khi nội soi. Có khoảng 2-5% loét ác tính có kết quả sinh thiết âm tính giả. Những ổ loét không lành sau 8-12 tuần điều trị nội khoa nên được sinh thiết lại. Xét nghiệm chải tế bào thường quy có thể tăng độ nhạy nhưng không được khuyến cáo là phương pháp thay thế hoặc bổ trợ cho sinh thiết nội soi.
Peptic Ulcer Disease_Diagnostics 1Nội soi thực quản-dạ dày-tá tràng còn được sử dụng để chẩn đoán, tiên lượng và điều trị biến chứng của PUD. Trong PUD có xuất huyết, EGD thực hiện trong vòng 24 giờ kể từ khi nhập viện đã cho thấy giúp giảm nhu cầu truyền máu, rút ngắn thời gian nằm tại khoa hồi sức tích cực (ICU) và tổng thời gian nằm viện, giảm nhu cầu phẫu thuật và giảm tỷ lệ tử vong. Những bệnh nhân có nguy cơ tái xuất huyết cao trên nội soi (ví dụ có cục máu đông bám, lộ mạch máu, đang chảy máu động mạch) nên được điều trị nội soi (ví dụ kẹp clip, điện đông lưỡng cực, đầu dò nhiệt, tiêm chất xơ) để đạt được cầm máu và giảm nguy cơ tái xuất huyết. Phương pháp cầm máu nội soi bằng cách tiêm epinephrine nên được thực hiện theo sau các biện pháp khác (ví dụ keo fibrin, thrombin, ethanol). Cần lặp lại điều trị nội soi trước khi cân nhắc can thiệp phẫu thuật hoặc xạ hình can thiệp ở bệnh nhân tái xuất huyết sau điều trị nội soi lần đầu. EGD cho phép xác định loét thâm nhiễm sang các cơ quan lân cận như gan và lách, thông qua sinh thiết lấy qua ống nội soi. Điều này quan trọng trong việc xác nhận sự hiện diện và phân biệt tắc nghẽn lành tính và tắc nghẽn ác tính. Nong bằng bóng nội soi đã được sử dụng để điều trị tắc môn vị lành tính, mang lại hiệu quả tốt đến rất tốt trong giảm triệu chứng ngắn hạn ở 67-83% bệnh nhân.
Lấy mẫu mô qua nội soi để làm xét nghiệm mô bệnh học và nuôi cấy hoặc test nhanh urease để phát hiện H. pylori cũng có thể được thực hiện. Xét nghiệm này chống chỉ định ở bệnh nhân bị loét dạ dày-tá tràng có thủng cấp tính. Trong một số nghiên cứu, nội soi chỉ có vai trò hạn chế trong xác định vị trí thủng và hướng dẫn khâu mạc nối nội soi sau đó.
Xét nghiệm cận lâm sàng
Các xét nghiệm cận lâm sàng có vai trò hạn chế trong đánh giá những bệnh nhân PUD không biến chứng. Nồng độ gastrin huyết thanh lúc đói có thể được đo ở bệnh nhân loét tá tràng khi nghi ngờ có các chẩn đoán khác (ví dụ hội chứng Zollinger-Ellison).,
Xét nghiệm tìm H. pylori được khuyến cáo cho tất cả bệnh nhân bị loét dạ dày tá tràng để chẩn đoán và quản lý nhiễm trùng đồng mắc và có thể bao gồm test nhanh urease, xét nghiệm ELISA huyết thanh học (kháng thể IgG), test urea hơi thở hoặc xét nghiệm tìm kháng nguyên trong phân. Chiến lược “xét nghiệm và điều trị” được khuyến cáo ở khu vực có tỷ lệ nhiễm H. pylori >10% và ở bệnh nhân có tiền sử hoặc đang mắc PUD, bệnh u lympho mô bạch huyết liên quan niêm mạc dạ dày mức độ thấp (MALT lymphoma), hoặc có tiền sử cắt bỏ ung thư dạ dày giai đoạn sớm bằng nội soi. Không khuyến cáo sàng lọc thường quy H. pylori cho những người không có triệu chứng.
Hình ảnh học
Chụp cản quang đường tiêu hóa trên
Chụp cản quang đường tiêu hóa trên có thể là lựa chọn khi EGD không có sẵn. Kỹ thuật này có thể dùng để đánh giá ban đầu ở bệnh nhân nghi ngờ có thủng dạ dày-tá tràng. Phương pháp này không hiệu quả trong phát hiện vết loét nhỏ <0,5 cm và không cho phép sinh thiết.
Chụp cắt lớp vi tính ổ bụng (CT)
Chụp cắt lớp vi tính ổ bụng (CT) được khuyến cáo để chẩn đoán biến chứng của PUD (ví dụ thủng và tắc nghẽn dạ dày-tá tràng). Khi loét gây thủng dạ dày-tá tràng thường sẽ thấy bóng khí tự do dưới cơ hoành trên CT. Phương pháp này không nhạy trong chẩn đoán PUD không biến chứng và có thể bỏ sót những vết loét nông.
Peptic Ulcer Disease_Diagnostics 2
Chụp cản quang đường tiêu hóa trên có thể là lựa chọn khi EGD không có sẵn. Kỹ thuật này có thể dùng để đánh giá ban đầu ở bệnh nhân nghi ngờ có thủng dạ dày-tá tràng. Phương pháp này không hiệu quả trong phát hiện vết loét nhỏ <0,5 cm và không cho phép sinh thiết.
Chụp cắt lớp vi tính ổ bụng (CT)
Chụp cắt lớp vi tính ổ bụng (CT) được khuyến cáo để chẩn đoán biến chứng của PUD (ví dụ thủng và tắc nghẽn dạ dày-tá tràng). Khi loét gây thủng dạ dày-tá tràng thường sẽ thấy bóng khí tự do dưới cơ hoành trên CT. Phương pháp này không nhạy trong chẩn đoán PUD không biến chứng và có thể bỏ sót những vết loét nông.
Peptic Ulcer Disease_Diagnostics 2