Bệnh loét dạ dày tá tràng Xử trí

Cập nhật: 28 October 2025

Nội dung của trang này:

Nội dung của trang này:

Nguyên tắc điều trị

Phương pháp điều trị thích hợp đối với PUD tùy thuộc vào nguyên nhân. Điều trị cả loét dạ dày và loét tá tràng bao gồm ức chế bài tiết acid và diệt H. pylori (nếu có). Liệu pháp chống bài tiết acid thúc đẩy quá trình lành vết loét và cải thiện triệu chứng nhanh hơn. Điều trị diệt H. pylori ở những bệnh nhân có nguy cơ cao đã được chứng minh là làm giảm đáng kể nguy cơ loét sau đó và ngăn ngừa chảy máu tái phát ở những bệnh nhân có loét dạ dày-tá tràng chảy máu.

Cần ức chế tiết acid về đêm ở bệnh nhân loét tá tràng. Liệu pháp duy trì kháng tiết có thể được khuyến cáo ở bệnh nhân có nguy cơ loét cao (tiền căn biến chứng loét, loét tái phát thường xuyên) và ở bệnh nhân nhiễm H. pylori không đáp ứng với điều trị lặp lại. Cân nhắc dự phòng nguyên phát với thuốc kháng tiết ở bệnh nhân có tiền sử PUD và đang dùng corticosteroid hoặc những bệnh nhân >65 tuổi, bị căng thẳng sinh lý nghiêm trọng, giảm tưới máu hoặc bỏng diện tích rộng; bệnh nhân có nguy cơ cao bị biến chứng đường tiêu hóa do NSAID, hoặc dùng kết hợp liều cao corticosteroid, thuốc chống kết tập tiểu cầu hoặc thuốc chống đông. Dự phòng thứ phát nên được cân nhắc cho bệnh nhân có biến chứng PUD trước đó (ví dụ chảy máu, tắc nghẽn và thủng dạ dày-tá tràng).

Điều trị bằng thuốc

Thuốc kháng acid

Thuốc kháng acid làm trung hòa acid dạ dày và giảm hoạt động của pepsin. Thuốc có hiệu quả trong giảm triệu chứng của PUD, thúc đẩy lành vết loét và giảm tái phát. Thuốc được dùng để làm giảm triệu chứng ngắn hạn. Thuốc kháng acid có thể hấp thu được (ví dụ natri bicarbonate, canxi bicarbonate) hoặc không hấp thu được (ví dụ nhôm hydroxide hoặc magiê hydroxide). Thuốc kháng acid hấp thu được có thể trung hòa acid nhanh và hoàn toàn nhưng có thể gây kiềm hóa và chỉ nên dùng trong 1-2 ngày. Thuốc kháng acid không hấp thu được ưu tiên do ít tác dụng không mong muốn toàn thân hơn.

Peptic Ulcer Disease_Management 1Peptic Ulcer Disease_Management 1


Bismuth subcitrate

Bismuth subcitrate có khả năng gắn kết cao với mô tổn thương, phủ lên đáy ổ loét để bảo vệ đáy ổ loét khỏi tiếp xúc với acid, pepsin và mật. Hiệu quả điều trị tương đương với thuốc đối kháng thụ thể histamine-2 (H2RA) và các thuốc làm lành loét khác.

Thuốc đối kháng thụ thể histamine-2 (H2RA)

Ví dụ: cimetidine, famotidine, lafutidine, nizatidine, ranitidine, roxatidine

Thuốc đối kháng thụ thể histamine-2 (H2RA) giảm bài tiết acid dạ dày bằng cách ức chế tác dụng của histamine trên thụ thể H2 ở tế bào thành của dạ dày. Tất cả H2RA có hiệu quả tương đương trong làm lành vết loét tá tràng với tỷ lệ lành là 70-80% sau 4 tuần và 87-95% sau 8 tuần.

Liều gấp đôi của thuốc H2RA có hiệu quả trong việc giảm nguy cơ loét dạ dày do NSAID. Sử dụng H2RA kết hợp với NSAID có thể là biện pháp tiết kiệm chi phí để ngăn ngừa chảy máu do loét thứ phát sau khi dùng NSAID; tuy nhiên, không có dữ liệu lâm sàng chứng minh rằng việc kết hợp này giúp ngăn ngừa biến chứng loét. Chưa có nghiên cứu nào đánh giá hiệu quả của H2RA ở các bệnh nhân sử dụng NSAID kéo dài. Hiệu quả của chúng kém hơn thuốc ức chế bơm proton (PPI). H2RA nói chung được dung nạp tốt nhưng có thể gây các tác dụng nhẹ lên hệ thần kinh trung ương (CNS) do khả năng vượt qua hàng rào máu não và tương tác với thụ thể histamin trong CNS. Cimetidine và ranitidine đều tương tác với hệ thống cytochrom P450 ở gan và có thể ảnh hưởng đến chuyển hóa của các thuốc khác.

Thuốc ức chế acid cạnh tranh kali (PCAB)

Ví dụ: revaprazan, tegoprazan, vonoprazan

Thuốc ức chế acid cạnh tranh kali ức chế thuận nghịch hoạt động của bơm H+/K+-ATPase bằng cách cạnh tranh với kali ở phía trong lòng ống tiêu hóa của tế bào thành dạ dày. Tác dụng toàn diện của thuốc đạt được ngay ở liều đầu do thuốc khởi phát tác dụng nhanh và duy trì hiệu quả tương tự ở các liều kế tiếp. Thuốc có hồ sơ an toàn tương đương và hiệu quả tương tự trong việc làm lành vết loét và phòng ngừa loét do NSAID so với PPI. Tegoprazan và vonoprazan kết hợp với kháng sinh có hiệu quả trong điều trị diệt H. pylori liên quan đến PUD.

Chất tương tự prostaglandin

Ví dụ: misoprostol

Chất tương tự prostaglandin bảo vệ niêm mạc dạ dày-tá tràng bằng cách thúc đẩy bài tiết bicarbonate và chất nhầy, đồng thời tăng cường lưu lượng máu đến niêm mạc và tái tạo tế bào ở niêm mạc dạ dày. Chúng cũng có tác dụng ức chế tiết acid khi dùng liều cao. Chúng hữu ích trong làm lành vết loét và ngăn ngừa loét tái phát. Chúng chủ yếu được khuyến cáo để phòng ngừa loét dạ dày-tá tràng do NSAID. Chất tương tự prostaglandin cần dùng nhiều liều và liên quan đến nhiều tác dụng không mong muốn hơn so với H2RA; do đó, chúng thường không được sử dụng để điều trị PUD. Nhược điểm chính là gây tiêu chảy và gây sẩy thai; do đó, thuốc này không được dùng cho phụ nữ có thai và phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ.

Thuốc ức chế bơm proton (PPI)

Ví dụ: esomeprazole, lansoprazole, omeprazole, pantoprazole, rabeprazole

Thuốc ức chế bơm proton là chất ức chế tiết acid dạ dày có hoạt lực mạnh nhất. Chúng ức chế không hồi phục hoạt động của bơm H+/K+-ATPase trên tế bào thành dạ dày. Chúng có hồ sơ an toàn tương tự H2RA nhưng làm lành vết loét dạ dày-tá tràng nhanh hơn H2RA. Tỷ lệ lành từ 80-100% sau 4 tuần điều trị ở bệnh nhân loét tá tràng và 8 tuần ở bệnh nhân loét dạ dày. Dùng phối hợp với PPI tốt hơn là với H2RA trong phòng ngừa chảy máu do loét ở bệnh nhân đang dùng thuốc chống kết tập tiểu cầu hoặc thuốc kháng đông.

PPI được sử dụng rộng rãi kết hợp với NSAID để phòng ngừa loét dạ dày-tá tràng do NSAID. Thuốc này làm giảm đáng kể nguy cơ chảy máu đường tiêu hóa trên ở bệnh nhân dùng NSAID. Chúng là nhóm thuốc chủ yếu để dự phòng và điều trị các tổn thương đường tiêu hóa trên liên quan đến NSAID. Việc dùng kết hợp PPI với thuốc ức chế enzyme COX-2 giúp giảm nguy cơ cao nhất về tái phát biến chứng loét và có thể dùng để dự phòng nguyên phát hoặc khi cần dùng NSAID lâu dài.

Ở bệnh nhân có nguy cơ cao bị loét dạ dày-tá tràng chảy máu không do giãn tĩnh mạch thực quản, có thể dùng PPI liều cao đường tĩnh mạch (IV) hoặc đường uống sau khi nội soi cầm máu để giảm tái xuất huyết và có thể cần phẫu thuật. Khuyến cáo dùng PPI đường uống trong 6-8 tuần sau điều trị nội soi loét xuất huyết để làm lành niêm mạc. PUD kháng trị có thể điều trị bằng PPI liều gấp đôi để đạt được hiệu quả lành vết loét. Điều trị dài hạn với PPI có thể được chỉ định cho bệnh nhân loét vô căn. Chúng cũng có thể dùng cho bệnh nhân tắc môn vị để làm lành những vết loét đang hoạt động. PPI có thể được phối hợp với chế phẩm bổ sung canxi để giảm thiểu nguy cơ gãy xương, nguy cơ này tăng lên khi sử dụng PPI dài hạn.

Sucralfate

Sucralfate đã được sử dụng để điều trị PUD và có tỷ lệ lành vết loét tương tự như thuốc kháng acid và H2RA. Nó bảo vệ niêm mạc dạ dày-tá tràng bằng cách bám vào đáy vết loét, hấp thụ acid mật, bất hoạt pepsin và kích thích bài tiết bicarbonate và chất nhầy mà không ảnh hưởng đến tiết acid dạ dày. Nó cũng có thể dùng để ngăn ngừa loét tá tràng tái phát. Sucralfate có hồ sơ an toàn xuất sắc và nói chung được dung nạp tốt. Thời gian điều trị cho PUD là 4 tuần.

Điều trị không dùng thuốc

Giáo dục bệnh nhân

Rượu

Rượu là chất kích thích mạnh sự tiết acid dạ dày. Nó là yếu tố nguy cơ độc lập của loét dạ dày-tá tràng. Người nghiện rượu mạn tính dễ bị loét, trong khi người thỉnh thoảng uống rượu có thể chỉ bị viêm dạ dày. Tỷ lệ tái phát ở bệnh nhân tiêu thụ rượu cao hơn đáng kể ở bệnh nhân bị loét dạ dày tái phát so với bệnh nhân bị loét tá tràng tái phát, với loét xuất hiện lại tại cùng vị trí hoặc vị trí liền kề với vết loét trước đó. Bệnh nhân nên được khuyên hạn chế lượng rượu uống vào ở mức 1 ly/ngày.

Chế độ ăn

Có bằng chứng hạn chế rằng thay đổi chế độ ăn giúp đẩy nhanh quá trình lành vết loét hoặc ngăn ngừa tái phát. Nên khuyên bệnh nhân tránh các thực phẩm có thể gây khó tiêu, ví dụ như cà phê, nước ngọt có caffein, thức ăn nhiều chất béo và gia vị cay. Sữa đã được chứng minh là chất có khả năng kích thích tiết acid dạ dày mạnh mẽ.

Sử dụng thuốc

Aspirin, NSAID và corticosteroid có thể gây loét dạ dày-tá tràng. Bác sĩ tim mạch nên đánh giá cẩn thận nhu cầu sử dụng aspirin ở bệnh nhân có tiền sử PUD. Nên khuyên bệnh nhân ngừng dùng NSAID; nếu không thể, có thể cân nhắc các thuốc thay thế để ngăn ngừa loét dạ dày-tá tràng và tổn thương niêm mạc. Dùng kéo dài NSAID nên kết hợp với thuốc ức chế bơm proton (PPI), thuốc kháng thụ thể histamin H2 (H2RA) liều cao (2x) hoặc misoprostol. Nên thay NSAID truyền thống bằng thuốc ức chế chọn lọc cyclooxygenase-2 (COX-2). Thuốc ức chế COX-2 làm giảm đáng kể tỷ lệ loét và biến chứng loét, nhưng việc sử dụng những thuốc này đã giảm do liên quan đến nhồi máu cơ tim và các biến cố tim mạch do huyết khối. Các nghiên cứu hiện tại cho thấy cả coxib và NSAID, ngoại trừ naproxen liều đầy đủ, đều làm tăng nguy cơ tim mạch.

Peptic Ulcer Disease_Management 2Peptic Ulcer Disease_Management 2


Hút thuốc

Hút thuốc làm tăng nguy cơ tái phát loét và làm chậm quá trình lành vết loét. Nguy cơ PUD có tương quan với số lượng thuốc lá hút mỗi ngày. Tỷ lệ tái phát ở bệnh nhân hút thuốc cao hơn đáng kể ở bệnh nhân loét dạ dày tái phát so với bệnh nhân loét tá tràng tái phát, với loét xuất hiện lại tại cùng vị trí hoặc vị trí liền kề với vết loét trước đó. Nên khuyên bệnh nhân bỏ hút thuốc.

Yếu tố tâm lý-xã hội

Không chịu đựng được căng thẳng và các triệu chứng trầm cảm làm tăng nguy cơ phát triển loét. Căng thẳng liên quan đến công việc, các vấn đề xã hội và rối loạn căng thẳng sau chấn thương cũng có thể dự báo bệnh loét sau đó. Tư vấn bệnh nhân về việc giảm căng thẳng có thể hữu ích.

Phẫu thuật

Phẫu thuật được khuyến cáo cho bệnh nhân có biến chứng cấp tính liên quan đến loét (ví dụ chảy máu, thủng, tắc nghẽn môn vị), PUD kháng trị với điều trị nội khoa và/hoặc nội soi, hoặc các nguyên nhân hiếm gặp của bệnh loét (ví dụ u tăng tiết gastrin, hội chứng Zollinger-Ellison). Chỉ định phổ biến nhất cho phẫu thuật là chảy máu. Phẫu thuật cầm máu được khuyến cáo cho bệnh nhân loét chảy máu sau khi nội soi nhiều lần thất bại hoặc sau nội soi lần đầu ở bệnh nhân có vết loét >2 cm, hạ huyết áp và/hoặc trạng thái huyết động không ổn định. Viêm phúc mạc do thủng là cấp cứu ngoại khoa cần hồi sức bệnh nhân, mở bụng và rửa phúc mạc, hoặc đặt miếng vá mạc nối.

Phẫu thuật điều trị dứt điểm cho loét bao gồm cắt dây thần kinh phế vị, cắt bỏ chọn lọc thần kinh phế vị, cắt bỏ chọn lọc cao thần kinh phế vị hoặc cắt bán phần dạ dày cho loét tá tràng và cắt bán phần dạ dày kèm nối dạ dày-tá tràng hoặc dạ dày-hỗng tràng cho loét dạ dày. Tắc nghẽn mạn tính có thể được giải quyết bằng phẫu thuật cắt bỏ dây thần kinh phế vị và tạo hình môn vị, phẫu thuật cắt hang vị hoặc nối dạ dày-hỗng tràng. Các chỉ định phẫu thuật chọn lọc cho bệnh loét dạ dày tá tràng bao gồm cắt bỏ loét nghi ngờ ác tính, không lành mặc dù đã điều trị nội khoa tối đa (loét khó trị), không dung nạp hoặc không tuân thủ điều trị nội khoa, và tái phát trong khi đang điều trị nội khoa tối đa.