Giới thiệu
Ung thư nội mạc tử cung là khối u ác tính ở tử cung. Bệnh lý này còn được gọi là ung thư tử cung, ung thư thân tử cung, ung thư biểu mô thân tử cung, ung thư biểu mô nội mạc tử cung. Bệnh thường được chẩn đoán ở giai đoạn sớm và vẫn còn khu trú, với tỷ lệ sống còn cao.
Endometrial Cancer_Disease Background 1
Endometrial Cancer_Disease Background 1Dịch tễ học
Ung thư nội mạc tử cung là bệnh lý ác tính phổ biến thứ sáu trên toàn thế giới và là nguyên nhân gây tử vong do ung thư đứng thứ 14 ở phụ nữ trên toàn thế giới. Đây là loại ung thư phụ khoa phổ biến nhất ở các nước phát triển và phổ biến thứ hai ở các nước đang phát triển. Bệnh thường gặp ở phụ nữ trên 50 tuổi hoặc sau mãn kinh.
Tỷ lệ mắc bệnh cao được ghi nhận ở châu Âu và Bắc Mỹ, và tỷ lệ thấp được ghi nhận ở các nước đang phát triển. Nguy cơ ung thư nội mạc tử cung ngày càng tăng rõ rệt nhất ở một số quốc gia châu Á (Nhật Bản, Philippines, Singapore và Ấn Độ), Belarus, Litthuania, Costa Rica và New Zealand. Phụ nữ da đen có nhiều khả năng mắc khối u có độ ác tính cao hơn và bệnh ở giai đoạn tiến triển tại thời điểm chẩn đoán.
Tỷ lệ mắc bệnh cao được ghi nhận ở châu Âu và Bắc Mỹ, và tỷ lệ thấp được ghi nhận ở các nước đang phát triển. Nguy cơ ung thư nội mạc tử cung ngày càng tăng rõ rệt nhất ở một số quốc gia châu Á (Nhật Bản, Philippines, Singapore và Ấn Độ), Belarus, Litthuania, Costa Rica và New Zealand. Phụ nữ da đen có nhiều khả năng mắc khối u có độ ác tính cao hơn và bệnh ở giai đoạn tiến triển tại thời điểm chẩn đoán.
Sinh lý bệnh
Ung thư tử cung có thể xảy ra ở lớp niêm mạc bên trong tử cung (nội mạc tử cung) hoặc ở lớp cơ tử cung (cơ tử cung). Các đột biến gen liên quan đến các con đường dẫn truyền tín hiệu phân tử và tình trạng tăng insulin máu thường liên quan đến bệnh đái tháo đường và hội chứng buồng trứng đa nang (PCOS), đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của ung thư nội mạc tử cung. Theo hệ thống phân loại của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) 1994 và Nhóm Hợp tác Nội mạc tử cung Quốc tế năm, tân sinh biểu mô nội mạc tử cung (tăng sản nội mạc tử cung không điển hình) là tổn thương tiền ung thư nội mạc tử cung.
Các yếu tố nguy cơ
Endometrial Cancer_Disease Background 2Các yếu tố nguy cơ của ung thư nội mạc tử cung là tuổi ≥55; thừa estrogen (như liệu pháp điều trị với estrogen, khối u sản xuất estrogen, dậy thì sớm, mãn kinh muộn, sử dụng tamoxifen); béo phì hoặc chỉ số khối cơ thể cao; hội chứng chuyển hóa (như tăng huyết áp, đái tháo đường); không sinh con hoặc vô sinh; hội chứng buồng trứng đa nang (PCOS); bệnh nhân có tiền sử mắc ung thư vú và ung thư buồng trứng; đột biến gen (như ung thư đại trực tràng không polyp di truyền/hội chứng Lynch); gia đình có tiền sử mắc ung thư nội mạc tử cung; và hút thuốc lá.
Phân loại
Các loại ung thư nội mạc tử cung
Loại 1 - Ung thư biểu mô nội mạc tử cung (Ung thư biểu mô tuyến nội mạc tử cung)
Ung thư biểu mô nội mạc tử cung loại 1 phổ biến hơn (75-80% trường hợp). Bệnh có liên quan về mặt sinh bệnh học với sự kích thích estrogen không đối kháng. Các khối u này có độ ác tính thấp, được chẩn đoán sớm và có tiên lượng tốt. Ung thư biểu mô nội mạc tử cung được chia thành 3 trường hợp dựa trên mức độ biệt hóa: G1: ≤5% mẫu mô tăng trưởng đặc không phải dạng vảy hoặc không phải dạng phôi dâu, biệt hóa tốt; G2: 6-50% mẫu mô tăng trưởng đặc không phải dạng vảy hoặc không phải dạng phôi dâu, biệt hóa trung bình; và G3: >50% mẫu mô tăng trưởng đặc không phải dạng vảy hoặc không phải dạng phôi dâu, biệt hóa kém hoặc không biệt hóa.
Loại 2 – Ung thư nội mạc tử cung biểu mô khác
Ví dụ các ung thư nội mạc tử cung loại 2 khác là ung thư biểu mô tế bào thanh dịch, tế bào sáng, không biệt hóa/giảm biệt hóa, carcinosarcoma, sarcoma và u Muller ác tính hỗn hợp. Tỷ lệ mắc ung thư loại này chiếm 10-20%. Đây là những dạng ung thư biểu mô có độ ác tính cao hơn với tỷ lệ xâm lấn ngoài tử cung cao hơn tại thời điểm phát hiện bệnh và được xem là các khối u nguy cơ cao. Các loại ung thư này phát sinh từ nội mạc tử cung teo và không có cơ chế bệnh sinh liên quan đến nội tiết tố.
Mô học
Ung thư biểu mô thanh dịch dạng nhú chiếm 10% các trường hợp nhưng có tỷ lệ tử vong cao (40%). Loại mô học tế bào sáng hiếm gặp (4%) nhưng tiên lượng xấu. Khối u độ 1 và 2 được xem là khối u có nguy cơ thấp, ngoại trừ ung thư biểu mô thanh dịch hoặc ung thư biểu mô tế bào sáng. Các khối u này biệt hóa tốt hoặc trung bình và/hoặc xâm lấn <50% độ sâu cơ tử cung và/hoặc khối u <2 cm. Khối u độ 3 được xem là khối u có nguy cơ cao. Khối u biệt hóa kém và/hoặc xâm lấn ≥50% độ sâu cơ tử cung và/hoặc khối u ≥2 cm.
Loại 1 - Ung thư biểu mô nội mạc tử cung (Ung thư biểu mô tuyến nội mạc tử cung)
Ung thư biểu mô nội mạc tử cung loại 1 phổ biến hơn (75-80% trường hợp). Bệnh có liên quan về mặt sinh bệnh học với sự kích thích estrogen không đối kháng. Các khối u này có độ ác tính thấp, được chẩn đoán sớm và có tiên lượng tốt. Ung thư biểu mô nội mạc tử cung được chia thành 3 trường hợp dựa trên mức độ biệt hóa: G1: ≤5% mẫu mô tăng trưởng đặc không phải dạng vảy hoặc không phải dạng phôi dâu, biệt hóa tốt; G2: 6-50% mẫu mô tăng trưởng đặc không phải dạng vảy hoặc không phải dạng phôi dâu, biệt hóa trung bình; và G3: >50% mẫu mô tăng trưởng đặc không phải dạng vảy hoặc không phải dạng phôi dâu, biệt hóa kém hoặc không biệt hóa.
Loại 2 – Ung thư nội mạc tử cung biểu mô khác
Ví dụ các ung thư nội mạc tử cung loại 2 khác là ung thư biểu mô tế bào thanh dịch, tế bào sáng, không biệt hóa/giảm biệt hóa, carcinosarcoma, sarcoma và u Muller ác tính hỗn hợp. Tỷ lệ mắc ung thư loại này chiếm 10-20%. Đây là những dạng ung thư biểu mô có độ ác tính cao hơn với tỷ lệ xâm lấn ngoài tử cung cao hơn tại thời điểm phát hiện bệnh và được xem là các khối u nguy cơ cao. Các loại ung thư này phát sinh từ nội mạc tử cung teo và không có cơ chế bệnh sinh liên quan đến nội tiết tố.
Mô học
Ung thư biểu mô thanh dịch dạng nhú chiếm 10% các trường hợp nhưng có tỷ lệ tử vong cao (40%). Loại mô học tế bào sáng hiếm gặp (4%) nhưng tiên lượng xấu. Khối u độ 1 và 2 được xem là khối u có nguy cơ thấp, ngoại trừ ung thư biểu mô thanh dịch hoặc ung thư biểu mô tế bào sáng. Các khối u này biệt hóa tốt hoặc trung bình và/hoặc xâm lấn <50% độ sâu cơ tử cung và/hoặc khối u <2 cm. Khối u độ 3 được xem là khối u có nguy cơ cao. Khối u biệt hóa kém và/hoặc xâm lấn ≥50% độ sâu cơ tử cung và/hoặc khối u ≥2 cm.
